TÀI LIỆU HỌ ĐOÀN VIỆT NAM

TÀI LIỆU HỌ ĐOÀN VIỆT NAM
(Biên soạn của Bùi Văn An – cháu ngoại Họ Đoàn)

Xin được giới thiệu với mọi người phần trích tiếp theo trong cuốn ” họ Đoàn Việt Nam những thông tin ban đầu”.
Rất mong nhận được phản hồi của bạn đọc nhằm mục tiêu như lời giới thiệu của bác Đoàn Duy Thành chủ tịch HĐ Đoàn tộc Việt Nam.
Cũng mong mọi người thông cảm vì trong phạm vi của cuốn sách mỏng tác giả chỉ mới đưa ra những thông tin mang tính khái lược.

PHẦN V

SỰ PHÂN BỐ CƯ DÂN HỌ ĐOÀN TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

Chương I
BẢN KÊ PHÂN BỐ CÁC CHI HỌ ĐOÀN TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

  • TT – Tỉnh – Số chi
    1 Hà Nội 8 24 Thanh Hóa 9
    2 Hải Dương 18                    25 Nghệ An 13
    3 Hải Phòng 14                     26 Hà Tĩnh 7
    4 Hưng Yên 13                     27 Quảng Bình 6
    5 Quảng Ninh 11                  28 Quảng Trị 9
    6 Thái Bình 9                        29 T.Thiên – Huế 14
    7 Nam Định 8                        30 Đà Nẵng 3
    8 Bắc Giang 6                       31 Quảng Nam 4
    9 Bắc Ninh 7                         32 Quảng Ngãi 8
    10 Lạng Sơn 4                      33 Phú Yên 2
    11 Thái Nguyên 2                 34 Ninh Thuận 2
    12 Vĩnh Phúc 3                     35 Khánh Hòa 3
    13 Phú Thọ 2                        36 Phan Thiết 1
    14 Yên Bái 1                         37 Bình Thuận 1
    15 Lao Cai 2                         38 Bình Định 3
    16 Hà Giang 4                      39 Bình Dương 2
    17 Tuyên Quang 2               40 Bình Phước 1
    18 Bắc Cạn 1                       41 Đắc Lắc 2
    19 Hòa Bình 4                      42 Đắc Nông 1
    20 Lai Châu 3                      43 Lâm Đồng 2
    21 Điện Biên 1                     44 Gia Lai 2
    22 Hà Nam 4                       45 Kon Tum 1
    23 Ninh Bình 5                     46 Long An 3
    47 Đồng Tháp 3                                     56 Kiên Giang 3
    48 Bến Tre 2                                           57 Cà Mau 1
    49 Đồng Tháp 2                                      58 Rạch Giá 1
    50 Đồng Nai 1                                         59 An Giang 2
    51 Sóc Trăng 1                                        60 Tiền Giang 2
    52 Trà Vinh 2                                           61 Hậu Giang 1
    53 Vĩnh Long 3                                        62 Sông Bé 1
    54 Long An 4                                           63 Tây Ninh 2
    55 Cần Thơ 3                                           64 Hồ Chí Minh 4

Ghi chú:

Bảng kê trên chỉ là con số tương đối dựa theo các thông tin chứng tỏ sự có mặt của người họ Đoàn sinh sống tại địa phương đó. Vì vậy:
• về tên gọi chi họ. Vì nhiều lý do, có những chi họ mới chỉ biết được 2, 3 đời chưa tìm được chi họ gốc, nhưng cũng có chi họ có hàng chục đời.
• Có những thông tin gửi về, chỉ cho biết gia đình họ sinh sống ở địa phương đó đã được mấy thế hệ, nay muốn hỏi tìm về nguồn gốc, chúng tôi tạm coi đó là một chi họ
• Có những chi họ đã mang tên họ khác từ nhiều đời trước, nay đã phát triển rất đông đúc. nhưng có gốc họ Đoàn thì cũng tạm coi là một chi
• Về số lượng các chi có thể chưa được đ
y đủ (vì chưa có thông tin cập nhật) hoặc có thể có nhiều chi nhỏ xuất xứ từ 1 chi lớn nhưng vì chưa có thông tin liên kết nên chúng tôi đã ghi thành nhiều chi.

Chương II
MỘT SỐ CHI, NHÁNH HỌ ĐOÀN LÂU ĐỜI Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG

  1. Gia phả họ Đoàn ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An được chép từ năm 1483 cho biết cụ tổ là Đoàn Bá Tuân, hậu duệ cụ Đoàn Văn Khâm, nguyên quán làng Cổ Phúc, Huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương. Cụ Đoàn Bá Tuân được vua Lê Thánh Tông giao trấn thủ Hải Dương.
    2. Ngoài dòng tộc Đoàn Bá Khởi, ở xã Vĩnh Mỹ, huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế còn có một chi họ Đoàn mà cụ tổ là Đoàn Chính Tâm, có gốc từ làng Lương Niệm, tổng Cung Thương, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa vào đây khai canh từ năm 1562 (thời chúa Nguyễn) tính đến nay 17 đời. Họ có 2 nhánh lớn, 13 chi, số con cháu đi làm ăn xa hình thành 7 tiểu chi: Khe Tre, Vùng Vàng, Đà Nẵng , Nha Trang, Đắc Lắc, TP Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ. Phải chăng đây là hậu duệ cụ Đoàn Văn, con tướng Đoàn Phúc Thượng, đã chạy vào Châu Ái sau khi cha bị giết.
    3. Tại xã Xuân Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây có cụ tổ họ Đoàn về đây chiêu dân, lập ấp từ triều Trần Phế Đế, niên hiệu Sương Phù 3 (1380) đến nay đã 620 năm. Tại đây còn có mộ tổ và gia phả nhiều đời.
    4. Theo di chúc của chi họ Đoàn ở xã Hiệp Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh thì cụ tổ họ này là Đoàn Phúc Cao đã về đây khai cư từ triều Trần Thuận Tông, Quang Thái 10 (1397). Họ này có nhánh về Đông Triều, Quảng Ninh. Có nguồn tin nói họ Đoàn này có gốc là họ Nguyễn, sau đổi sang họ Đoàn. Đây là chi họ của thiếu tướng Đoàn Quang Thìn, nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương.
    5. Họ Đoàn ở thôn Kim Sơn, xã Lê Thiện, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng là họ Đoàn lâu đời, có đông con cháu. Tại đây thờ cụ tổ là Đoàn Bá Triện, Việt Trung tướng quân. Chức vụ này do vua Lê Thái Tổ phong khi cụ Triện giúp Lê Lợi chống quân Minh thắng lợi.
    6. Tại xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội có 2 chi họ Đoàn lớn. Chi họ Đoàn ở Hữu Thanh Oai cụ tổ là Đoàn Phúc Sơn đến nay đã có 18 đời, có một chi họ chuyển cư sang làng Lạc Thổ, xã Song Hồ, tỉnh Bắc Ninh đổi sang họ Đỗ. Họ này có cụ Đoàn Huyên và con là Đoàn Triển đều đỗ cử nhân triều Nguyễn.
    7. Chi họ Đoàn ở Tả Thanh Oai nói là cụ tổ họ đã về đây từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế), con cháu đông đúc, song không có phả để lại nên không chứng minh được gốc họ.
    8. Họ Đoàn ở xã Nghĩa Đô, nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, vốn có gốc từ xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây đến nay đã có nhiều đời. Họ này có cụ Đoàn Nhân Công đỗ Tiến sỹ năm 1447, triều Lê Nhân Tông, và con là Đoàn Nhân Thục đỗ Tiến sỹ năm 1502 triều Lê Hiến Tông. Tại Nghĩa Đô hiện có mộ và nhà thờ cụ Đoàn Nhân Thục.
    9. Họ Đoàn ở làng Yên Canh (phố Cửa Bắc – Hà Nội hiện nay) là một họ lâu đời, gia phả bị mất. Họ có 4 nhánh đi về các địa phương sau đây:
    – Một nhánh về Bãi Sậy, Hưng Yên. Có nhà thờ.
    – Một nhánh về Nam Định. Có nhà thờ.
    – Một nhánh về Thái Bình
    – Một nhánh vào Nam Bộ.
    Riêng nhánh ở Hà Nội cụ tổ là Đoàn Văn Tiu, có mộ trong khuôn viên nhà thờ họ phố Cửa Bắc, đền thờ họ ở phố Cửa Bắc có thờ đức Triệu Quang Phục, đã bị bom mỹ phá hủy. Họ này có nhà tư sản Việt Đoàn (ở phố Đinh Tiên Hoàng) đã mất, là anh em đồng hao với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Họ này còn giữ được 13 sắc phong của các triều đại trước đây.
    10. Họ Đoàn ở thôn Đại Cát, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm – Hà Nội, cụ tổ là Đoàn Đình Long đến nay đã 20 đời, có gia phả bằng Hán Nôm và nhà thờ họ.
    11. Họ Đoàn ở thôn Kiều Thị, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, cụ tổ là Đoàn Phúc Lộc đến nay đã 18 đời. Đời thứ 2 họ này có cụ Đoàn Hữu Thúc được phong tước Quận công, đời thứ 9 có cụ Đoàn Phúc Hoành là thầy thuốc ở Thái y viện. Đời thứ 5 của Họ có một chi chuyển cư sang Bối Khê, Châu Giang, Hưng Yên đổi sang họ Đỗ. Đây là họ của nhạc sỹ Đoàn Bổng.
    12. Họ Đoàn ở thôn Hải Yến, xã Hải Triều, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, cụ tổ là Đoàn Phúc Chiêu đến nay đã 18 đời. Họ này có 8 người đỗ Cử nhân triều Nguyễn, đặc biệt có gia đình cụ Đoàn Mậu cả 5 cha con đều đỗ Cử nhân. Đời thứ 11 họ này có người chuyển cư sang Tiền Hải, Thái Bình. Ngoài ra còn có 10 người con trai của họ thuộc các đời khác nhau đi lập nghiệp ở các địa phương khác chưa chắp nối được với quê tổ?
    13.Chi Họ Trương ở Dị Chế, Tiên Lữ Hưng Yên có Gốc họ Đoàn đổi sang họ Trương từ mấy đời trước. Đây là chi họ của cụ Hoàng Hoa Thám
    14. Họ Đoàn ở thôn Phượng Lâu, xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên cụ tổ là Đoàn Phúc Tâm đến nay đã 14 đời. Họ này có một số chi chuyển cư về Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng và xã Lương Bằng cùng huyện.
    15. Họ Đoàn ở thôn Tường Vu, xã Cộng Hòa, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương, cụ tổ là Đoàn Duy Hiền đến nay đã 14 đời. Cụ Hiền có 2 người em cùng về: Một người về Tiên Lữ, Hưng Yên; một người về Tiên Lãng, Hải Phòng, song hiện nay chưa chắp nối được. Đây là họ của ông Đoàn Duy Thành, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
    16. Họ Đoàn ở thôn Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng cụ tổ là Đoàn Phúc Xô đến nay đã 15 đời.
    17. Họ Đoàn ở thôn Lương Đường, xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cụ tổ là Đoàn Công Trí từ Nam Định về đây đã được 15 đời. Sau 5 năm chuyển cư về Hải Phòng, người anh cả lại trở về Nam Định từ bấy đến nay.
    18. Tại xã Tiểu Hoàng, tổng Đại Hoàng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (là địa danh cũ nay chưa rõ thuộc xã, huyện nào) có một chi họ Đoàn lâu đời. Tại đây có hai anh em về đây định cư vào năm 1433 ở hai nơi: một người về xã Quảng Cư, tổng Phù Lưu, huyện Thủy Nguyên; một người về làng Hòa Hy, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Cụ tổ của chi Cát Hải là Đoàn Công Tự Đức. Con cháu đời sau dòng họ Đoàn Đức có Đoàn Đức Vạn chủ hiệu nước mắm Vạn Vân nổi tiếng một thời và con là nhạc sĩ trữ tình Đoàn Chuẩn.
    19. Họ Đoàn ở làng Vân Chàng, xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, cụ tổ là Đoàn Huy Thái, hiệu là Phúc Bình đã về đây từ triều Trần, cách nay 700 năm. Đời thứ 7 họ này có cụ Đoàn Huy Ánh hiệu là Ôn Cung, đỗ Cử nhân năm Hồng Đức thứ 18 (1487). Cụ Đoàn Hy và Đoàn Thuật đỗ Cử nhân triều Nguyễn.
    20. Một chi Họ Đoàn nữa ở xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, cụ tổ là Đoàn Chính Uy, có gốc là huyện Văn Giang, Hưng Yên về đây từ triều Trần Hiến Tông (1498-1505). Đời thứ 5 Họ này có cụ Đoàn Tấn Khôi sang huyện Ý Yên, Nam Định lập nghiệp, có cụ Đoàn Thị Hoa được dân làng Rót, xã Nam Bình (cùng huyện) tôn làm Thành Hoàng làng, triều Tự Đức và Khải Định có sắc phong. Đời thứ 7 có cụ Đoàn Công Khuyến, đỗ Hương cống được bổ làm Tri huyện và em là Đoàn Đình Trạc, đỗ Hương cống dạy học ở Quốc Tử Giám. Đời thứ 11 có cụ Đoàn Hữu Đức đỗ 2 khoa Tú tài triều Tự Đức.
    21. Họ Đoàn ở thôn Nam Trực, xã Trực Khang, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định có 2 cụ tổ là Đoàn Luật và Đoàn Chiếu từ Kim Môn, Hải Dương chuyển cư về đây vào năm Hồng Đức thứ 25 (1484). Hiện vẫn còn 2 nhánh lớn gồm 600-700 nhân khẩu.
    22. Họ Đoàn ở thôn Nhất, xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, cụ tổ là Đoàn Đình Trác, sinh tháng 10- Đinh Hợi (1587), có gốc từ Hưng Yên sang, cụ đỗ Đệ nhất lực sỹ khoa thi võ lâm năm 1604 được phong tước Lê triều đô chỉ huy sứ (triều Lê- Trịnh).
    23. Họ Đoàn ở làng Đô Quan, nay là xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũng là Họ Đoàn lâu đời. Họ có Cử nhân Nho học triều Duy Tân là Đoàn Quán, nhà thơ mới nhóm Tự lực văn đoàn là Đoàn Văn Cừ.
    24. Họ Đoàn thôn Hồng Việt, xã Nam Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định là một chi họ Đoàn lâu đời. Có gia phả và mộ tổ. Đây là họ của ông Đoàn Văn Kiển, Tổng Giám đốc công ty Than Việt Nam.
    25. Họ Đoàn ở thôn thượng Cầm, xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là chi họ Đoàn Văn, cụ tổ là Đoàn Phúc Giang từ Ý Yên, Nam Định sang đến nay đã 15 đời. Có gia phả và nhà thờ họ. Họ này có 6 chi chuyển đi các địa phương trong và ngoài tỉnh.
    26. Họ Đoàn ở thôn Vân Động, xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là chi Họ Đoàn Hữu, cụ tổ là Đoàn Chính Tâm (chưa rõ quê gốc) đến nay đã 15 đời. Có gia phả và nhà thờ họ. Họ có 3 chi chuyển đi các địa phương trong và ngoài tỉnh.
    27. Họ Đoàn ở thôn Lương Bằng, xã Thái Nguyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, cụ tổ là Đoàn Đúc Trọng (chưa rõ quê gốc). Họ này có 2 nhánh về xã Thái Thịnh, huyện Thái Thụy và Đông Quý huyện Tiền Hải cùng tỉnh.
    28. Họ Đoàn ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cụ tổ đi theo nhà Mạc lên đây sau khi nhà Lê chiếm tại Thăng Long. Họ này có một chi chuyển sang huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
    29. Họ Đoàn ở xã Đề Thám, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng cũng từ dưới xuôi lên đây thời Mạc suy. Hậu duệ cụ tổ chi này có Trung tướng Đoàn Nam Long (mới mất). Đây là chi họ của ông Đoàn Ngọc Bông, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam.
    30. Họ Đoàn ở làng Vọng Xẻ, xã Đa Mai, thị xã Bắc Giang, cụ tổ có gốc từ Hải Dương về đây khai khẩn đất đai, đến nay đã có 16 đời. đây là họ ông Đoàn Thao, Phó Chủ nhiệm Ủy ban TDTT nhà nước.
    31. Họ Đoàn ở xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, cụ tổ là Đoàn Phúc Linh từ Sơn Tây về đây đến nay đã có 18 đời. Họ có gia phả bằng Hán – Nôm và mộ tổ.
    32. Họ Đoàn xã Phú Hòa, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh, đến nay có 16 đời. Họ này có cụ Đoàn Sư Đức, đỗ Tiến sỹ khoa Giáp Tuất (1514) triều Lê Tương Dực.
    33. Họ Đoàn ở xã Minh Đạo, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cụ tổ là Đoàn Phúc Chính. Hậu duệ Họ này có nhà thơ Đoàn Phú Tứ, là một trong 4 tác giả họ Đoàn của Văn học Thăng Long – Hà Nội thế kỷ 19- 20.
    34. Họ Đoàn có gốc làng An Ninh, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Định, cụ tổ là Đoàn Đạo Tôn từ Thanh Hóa ra, đến nay đã có nhiều đời. Họ có 3 nhánh lớn ở ba nơi: Nhánh cả cụ tổ là Đoàn Hữu Hoàn, con cháu hiện nay cư ngụ ở làng Thanh Liêm, xã Thanh Bình, huyện thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nhánh 2 cụ tổ là Đoàn Thoát Chơn, con cháu hiện nay sống ở thôn Sấu Đống, xã Liêm Túc, huyên Thanh Liêm; nhánh 3 cụ tổ là Đoàn Hữu Phú con cháu hiện nay ở thôn Giành, xã Tập Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
    35. Họ Đoàn ở xã Hưng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Cụ tổ là Đoàn Phúc Đức (chưa rõ quê gốc), đến nay đã 16 đời. Họ có gia phả và mộ tổ.
    36. Họ Đoàn có gốc từ thôn Tiên Cung, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, Tỉnh Nghệ An, cụ tổ là Đoàn Gia Mạnh Tổ (không rõ tên thật) được triều hậu Lê sắc phong Trung Đẳng chính thần, hiệu Xuân Lan tôn thần. Họ có 5 chi: 3 chi hiện ở Trung Sơn, cùng huyện, 1 chi về xã Thanh Hòa, huyện Đô Lương, cùng tỉnh.
    37. Họ Đoàn ở xã Đức Lạc, huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh, cụ tổ là Đoàn Hữu Mục, từ Bắc vào đây đầu triều hậu Lê. Họ có 3 vị có công giúp nhà Lê trung hưng được phong tước Quận công. Họ này đến nay đã 18 đời.
    38. Họ Đoàn ở xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, cụ tổ là Đoàn Sài vào đây đầu triều Hậu Lê, đến nay đã 18 đời, Họ này triều Nguyễn có cụ Đoàn Tử Quang đỗ cử nhân vào tuổi 82, khoa thi năm Canh tý (1900), được coi là sự kiện hiếm có trong lịch sử khoa cử Việt Nam.
    39. Ở 2 huyện Quảng Trạch và Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, có dòng họ Đoàn mà cụ tổ là Đoàn Nghi Trung Bá được vua Lê Thánh Tông giao trấn thủ Quảng Bình vào năm 1460. Dòng họ này có gốc từ làng Thổ Hào, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
    40. Họ Đoàn ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cụ tổ là Đoàn Công Huyền, con một vị Đại lang, (chưa rõ tên) có gốc từ huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương vào đây từ thời chúa Nguyễn Hoàng. Con trai cụ Đoàn Công Huyền là Cụ Đoàn Công Nhạn được chúa Nguyễn phong tước Thạch Quận công. Ông Nhạn có con gái là Đoàn Thị Ngọc Phi là vợ chúa Nguyễn Phúc Lan, được triều Gia Long tôn làm Hiếu Chiêu Hoàng hậu. Lăng Hiếu Chiêu Hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Diên hiện nay còn ở làng Chiêu Sơn, Duy Xuyên, Quảng Nam, đã được xếp hạng di tích lịch sử. Con trai chúa Nguyễn Phúc Lan với bà Đoàn Thị Ngọc Phi là Nguyễn Phúc Tần được kế tục nghiệp Chúa. Họ này đã có chi vào làm ăn ở Sài Gòn và vài tỉnh Nam Bộ. Đây là Họ của ông Đoàn Hữu Công tức nhạc sỹ Thuận Yến và con ông là ca sỹ Thanh Lam.
    41. Họ Đoàn ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, cụ tổ là Đoàn Đại Lang (không rõ tên thật), nguyên quán ở làng Mỹ Huệ, huyện Tân Minh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, đã theo chúa Nguyễn vào đây để khai khẩn đất đai. Cụ tổ đã khai khẩn được 200 mẫu ruộng ở 2 xã Xuân Minh và Nguyệt Biều rồi cùng vợ trở về nguyên quán để lại người con trai là Đoàn Ngọc Lai trông coi ruộng đất và sinh các thế hệ sau này ở Quảng Nam. Đời thứ 9 họ này có Đô Đốc Đoàn Ngọc Tài, thân tướng của Đại tướng Trần Quang Diệu dưới triều Tây Sơn, ông giữ thành Phú Xuân – Huế, đã tuẫn tiết khi thành bị quân Nguyễn Ánh vây hãm.
    42. Họ Đoàn ở xã Điện An, huyên Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, cụ tổ là Đoàn Thể Thân từ Bắc vào đây năm Giáp Tý (1564) triều Lê Anh Tông. Trong gia phả có nói do bị họ Mạc truy đuổi nên gia đình cụ Thân vào đây có 4 anh em đã đổi ra họ Trần và họ Phạm.
    – Con cả là Đoàn Đăng đổi thành Phạm Văn Lệ cư ngụ ở thôn Cẫm Văn, xã Điện Hồng.
    – Con thứ là Đoàn Thăng (tức Luật), làm con nuôi ông Trần Khánh Thiện nên đổi là Trần Bá Đạt ở Giáp Nhất, Điện An.
    – Con thứ 3 là Đoàn Thế Đàm tức là Đoàn Trọng Quát đổi là Phạm Phú Điều ở Điện Trung.
    – Một người con trai út là ông Bình Huề, Đoàn Quế Phú, không ghi tông tích, nhưng trong gia phả Phạm Phú có nói ông này có 2 con là Phạm Phú Tài và Phạm Thị Xuân Lựợc.
    Dòng họ Phạm Phú Điều vào triều Tự Đức có danh nhân Phạm Phú Thứ được bổ nhiệm làm quan Lại Bộ tam tri, quan có tư tưởng cấp tiến, đã nhiều lần khuyên Tự Đức nên cách tân theo phương Tây nhưng bị phái bảo thủ trong triều chống lại và Tự Đức không nghe. Sau khi ông cùng Phan Thanh Giản sang Pháp thương lượng xin chuộc lại các tỉnh Nam bộ, không xong, về nước ông bị cách chức.
    Ngày 27/7/1991, đại diện 5 Hội đồng gia tộc họ Phạm Phú, Trần Công và Đoàn Thế ở Điện Bàn và Quế Sơn, Quảng Nam đã họp bàn Đối chiếu gia phả, cùng nhau công nhận 5 chi họ trên là hậu duệ của cụ Đoàn Thế Thân.
    43. Họ Đoàn ở xã Đại Hùng, huyện ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, là một họ Đoàn lâu đời có từ thời Lê Sơ, đời thứ 5 họ này có tướng Đoàn Trọng Côn được triều Lê – Trịnh phong chức Đô đốc chỉ huy sứ rồi Ngự đô đốc phủ, tả Đô đốc, tước Thái Bảo.
    44. Họ Đoàn ở xã Sơn Thủy, Hương Sơn, Hà Tĩnh chia ra hai nhánh, họ Đoàn trên và họ Đoàn dưới, có nhà thờ tổ riêng, đều cúng giỗ tổ vào ngày rằm tháng giêng và tháng bảy hàng năm. Năm 2011, nhà thờ họ Đoàn trên được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
    45. Họ Đoàn ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế có dòng họ Đoàn sống từ nhiều đời nay.
    46. Xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên có dòng họ Đoàn sống từ nhiều đời nay.
    47. Họ Đoàn thôn Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng.
    48. Họ Đoàn Thôn Triều Dương, xã Hải Triều, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên
    49. Họ Đoàn [Đoàn Gia] Vĩnh Trai – Trừng Xá – Lương Tài – Bắc Ninh
    50. Họ Đoàn thôn Nam Cường, xã Thái Hà, Thái Thụy, Thái Bình.
    51. Họ Đoàn làng Trung Trinh, Quán Hàu, Quảng Ninh, Quảng Bình.
    52. Họ Đoàn làng Quàn, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
    53. Họ Đoàn Trung phường Yên Hải, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
    54. Họ Đoàn ở Thượng Đình, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, là hậu duệ của cụ Đoàn Cao Sơn
    55. Họ Đoàn Công, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
    56. Họ Đoàn Văn, xã Quảng Định, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
    57. Họ Đoàn xã Hòa An, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên
    58. Một số chi họ đoàn tại Quảng trị
    59. Một số chi họ đoàn ở một số địa phương thuộc các tỉnh miền Trung có gốc từ các huyện của Hải Dương Di cư vào.
    60. Một số chi họ đoàn ở hoà bình, sơn la có gốc từ Thủy Nguyên Hải phòng.
    ……….
    Chương III
    MỘT SỐ CHI, NHÁNH HỌ ĐOÀN Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG CÓ NHIỀU NGƯỜI THÀNH ĐẠT
    1, Họ Đoàn làng Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên
    Tổng số: 10 vị: 1. Đoàn Ngọc Ái, 2. Đoàn Tảo, 3. Đoàn Đảng, 4. Đoàn Điển, 5. Đoàn Thụy Liên, 6. Đoàn Thụy Giáp, 7.Đoàn Thăng, 8. Đoàn Danh Chấn, 9. Đoàn Mậu, 10. Đoàn Như Chương
    2. Họ Đoàn làng Hữu Thanh oai, Thường Tín Hà Nội
    Tổng số 5 vị: 1.Đoàn Huyên, 2. Đoàn Bưu, 3. Đoàn Triển, 4. Đoàn Ngưng, 5. Đoàn Vĩ
    3. Họ Đoàn xã Nhơn Hòa , Bình Sơn, Quảng Ngãi
    Tổng số 3 vị: 1.Đoàn Duy Trinh; 2. Đoàn Khắc Nhượng, Đoàn Thúc Vỹ
    4. Họ Đoàn xã u Đàm, Thừa Thiên
    Tổng số 2 vị: 1. Đoàn Kim Giao; 2. Đoàn Cư
    5.Họ Đoàn ở Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội:
    Tổng số 2 vị: 1. Đoàn Văn Huy, 2.Đoàn Duy Thục
    6. Họ Đoàn ở Đào Lãng, Vĩnh Lại, Hải Dương:
    Tổng số 2 vị: 1.Đoàn Đình Chi, 2.Đoàn Đình Phương
    7.Họ Đoàn ỏ Vân Chàng, Nam Chân, Nam Định:
    Tổng số 2 vị: 1 Đoàn Hy, 2.Đoàn Thuật

Chương IV
MỘT SỐ CHI HỌ ĐOÀN ĐÃ ĐỔI TÊN HỌ

  1. Họ Đoàn Hiến Phạm (Giai Phạm)
    (Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).
    Theo gia phả họ Đoàn “Đoàn thị thực lục”, thì tổ tiên của bà Đoàn Thị Điểm vốn họ Lê, đến đời cha bà là Đoàn Doãn Nghi (1678-1729), mới đổi ra họ Đoàn. Ông Doãn Nghi thi đỗ Hương cống (Cử nhân) đời Lê, thi Hội không đỗ, nên ở dạy học và bốc thuốc. Ông cưới vợ (họ Vũ, không rõ tên), sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân (1700 – ?) và con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân sau lấy vợ người họ Lê và sinh được 2 người con là Đoàn Doãn Y và Đoàn Lệnh Khương. Ông Doãn Luân mất sớm (khoảng độ 30 tuổi. Doãn Y và Lệnh Khương được cô ruột là Đoàn Thị Điểm nuôi dạy trở thành những người nổi tiếng.
    2. Họ Đỗ làng Lạc Thổ
    (Xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh)
    Theo gia phả và nội dung đôi câu đổi trong nhà thờ họ Đỗ Đại tôn tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thì dòng họ này đã sinh cơ lập nghiệp tại vùng đất này đến nay đã được 13 đời, đến nay phát triển thành 5 chi, bà con trong họ có truyền thống đoàn kết, giữ gìn nề nếp gia phong, có nhiều đóng góp tích cực cho địa phương và đất nước, nhiều người học hành đỗ đạt. Cụ khởi tổ của dòng họ Đỗ ở đây là người họ Đoàn làng Hữu Thanh Oai – Thường Tín – Hà Nội, khi đến định cư tại đây cụ đã đổi sang họ Đỗ.
    Gia phả ở đây ghi:
    Đoàn tính nhất chi, di cư tại bản xã Lạc Thổ, tòng mẫu tính, cải vi Đỗ.
    Đôi câu đối trong nhà thờ họ Đỗ như sau:
    Lạc Thổ gia thanh lịch thế kim
    Thanh Oai địa mạch nguyên đầu thủy
    3. Họ Dương ở An Giang.
    Vào triều Nguyễn, hậu duệ của cụ Đoàn Duy Tinh có 3 anh em là Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Hữu Trực và Đoàn Hữu Ai nổi lên chống lại Tự Đức (tục gọi là giặc Chày Vôi) nhưng bị thất bại. Ba anh em nhà Đoàn Hữu Trưng bị triều Tự Đức giết hại, một số gia đình trong nhánh Họ này phải chạy Ra Quảng Trị, Quảng Bình và vào Tới An Giang để tránh họa chu di. Chi Họ vào An Giang đổi sang Họ Dương.
    4.Họ Đoàn ở xã Lan Mẫu
    (Huyện Lục Ngạn – Bắc Giang)
    Xã Lan Mẫu thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Họ Đoàn ở đây là hậu duệ của Mạc Kính Điểu, Mạc Kính Phu. Mạc Kính Phu tước Đoan Lương công, lấy tước này mà đổi thành Nguyễn Đoan khi về xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh rồi khi về xã Nhân Hựu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh thì đổi thành Đoàn Quang, Đoàn Trác, Đoàn Huy…Gia phả chép năm Minh Mệnh 15 (1835).
    5.Họ Đoàn ở xã Điện An
    (Huyên Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
    Cụ tổ là Đoàn Thể Thân từ Bắc vào đây năm Giáp Tý (1564) triều Lê Anh Tông. Trong gia phả có nói do bị Họ Mạc truy đuổi nên gia đình cụ Thân vào đây có 4 anh em đã đổi ra Họ Trần và Họ Phạm.
    – Con cả là Đoàn Đăng đổi thành Phạm Văn Lệ cư ngụ ở thôn Cẫm Văn, xã Điện Hồng.
    – Con thứ là Đoàn Thăng tức Luật, làm con nuôi ông Trần Khánh Thiện nên đổi là Trần Bá Đạt ở Giáp Nhất, Điện An.
    – Con thứ 3 là Đoàn Thế Đàm tức là Đoàn Trọng Quát đổi là Phạm Phú Điều ở Điện Trung.
    – Một người con trai út là ông Bình Huề, Đoàn Quế Phú, không ghi tông tích, nhưng trong gia phả Phạm Phú có nói ông này có 2 con là Phạm Phú Tài và Phạm Thị Xuân Lựợc.
    Dòng Họ Phạm Phú Điều, vào triều Tự Đức có danh nhân Phạm Phú Thứ được bổ nhiệm làm quan Lại bộ tam tri, quan có tư tưởng cấp tiến, đã nhiều lần khuyên Tự Đức nên cách tân theo phương Tây nhưng bị phái bảo thủ trong triều chống lai và Tự Đức không nghe. Sau khi ông cùng Phan Thanh Giản sang Pháp thương lượng xin chuộc lại các tỉnh Nam Bộ, không xong, về nước ông bị cách chức.
    Ngày 27/7/1991, đại diện 5 Hội đồng gia tộc họ Phạm Phú, Trần Công và Đoàn Thế ở Điện Bàn và Quế Sơn, Quảng Nam đã họp bàn Đối chiếu gia phả, cùng nhau công nhận 5 chi Họ trên là hậu duệ của cụ Đoàn Thế Thân.
    6.Họ Đoàn ở xã Hiệp Hòa
    (Huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh)
    Theo di chúc của chi Họ Đoàn ở xã Hiệp Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh thì cụ tổ Họ này là Đoàn Phúc Cao đã về đây khai cư từ triều Trần Thuận Tông, Quang Thái 10 (1397). Họ này có nhánh về Đông Triều, Quảng Ninh. Có nguồn tin nói Họ Đoàn này có gốc là Họ Nguyễn, sau đổi sang Họ Đoàn. Đây là chi Họ của Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn, nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương.
    7.Họ Đỗ ở Bối Khê
    (Châu Giang, Hưng Yên)
    Theo Gia phả thì họ Đỗ ở đây, có gốc từ Họ Đoàn ở thôn Kiều Thị, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), cụ tổ là Đoàn Phúc Lộc đến nay đã 18 đời. Đời thứ 2 Họ này có cụ Đoàn Hữu Thúc được phong tước Quận công, đời thứ 9 có cụ Đoàn Phúc Hoành là thầy thuốc ở Thái y viện. Đời thứ 5 của Họ có một chi chuyển cư sang Bối Khê, Châu Giang, Hưng Yên rồi đổi sang họ Đỗ. Đây là Họ của nhạc sỹ Đoàn Bổng.
    8.Họ Trương ở Dị Chế
    (Tiên Lữ – Hưng Yên)

Đây là dòng họ của người Anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám (1836 – 1913) – Thủ lĩnh cuộc khới nghĩa nông dân vùng núi rừng Yên Thế nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyễn và Thực dân Pháp
Dòng họ ở đây vốn gốc họ Đoàn sau đổi sang họ Trương, đến đời Hoàng Hoa Thám thì đổi sang họ Hoàng.

  1. Họ Nguyễn (1 chi) ở Từ Liêm Hà Nội

Theo thông tin của bác Nguyễn Văn Hoai (hiện ở 84 Thái Thịnh) cung cấp thì gia phả ở đây cho biết: Cụ tổ của chi họ này là cụ Đoàn Văn Nhu (sinh khoáng 1870) làm quan quản kho của triều đình Huế.
10. Dòng họ của cụ Nguyễn An Ninh ở miền Nam.
Bà Minh là con gái thứ 5 của cụ Nguyễn An Ninh, nay đã 77 tuổi nhưng nhanh nhạy, hoạt bát và đặc biệt là rất minh mẫn. Bà Minh kể lại:
“Ông nội của ba tôi sinh năm 1824, tên Nguyễn An Nghi. Gốc tổ của ông Nguyễn An Nghi ở miền Bắc. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, do chống lại triều đình mà các ông bị tội xử chém”. Sau đó họ trôi dạt vào Bình Định. Từ gốc gác họ Đoàn đổi thành họ Nguyễn. Ông cố của Nguyễn An Ninh tên Đoàn Công Hòa, cháu gọi bà Đoàn Thị Điểm bằng cô ruột. Đoàn Công Hòa là em út của 4 anh em trai, họ chiêu tập nghĩa binh chống lại chúa Trịnh. Đoàn Công Hòa vào Nam đổi là Nguyễn Chuẩn Trực. Ông Nghi sinh tại Bình Định, sau này nổi tiếng giỏi Hán học, võ nghệ và y học cổ truyền. Y học là nghề của dòng họ nhiều đời.
….

( Bài sau sẽ giới thiệu về một số bộ gia phả họ đoàn ghi được nhiều đời.)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *