LÝ LỊCH DI TÍCH ĐỀN THỜ ĐOÀN NHỮ HÀI

LÝ LỊCH DI TÍCH

ĐỀN THỜ ĐOÀN NHỮ HÀI

Đức cả an dân lưu vạn cổ

Công cao giữ nước rạng ngàn thu 

I- TÊN GỌI:        

Tên gọi: Đền thờ Đoàn Nhữ Hài

          Đoàn Nhữ Hài sinh năm 1280 tại làng Hội Xuyền, huyện Tr­uờng Tân, Lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dư­ơng). Ông là ng­ười có nhiều công lao giúp vua Trần trị vì đất n­ước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn Nhữ  Hài  mất năm 1335 trong một trận quyết chiến với quân xâm lư­ợc Ai Lao để bảo vệ bờ cõi phía Nam của Tổ quốc. Sau khi Đoàn Nhữ Hài qua đời, triều đình nhà Trần th­ương tiếc giao cho nhân dân vùng Nam Nhung (huyện T­ương D­ương, tỉnh Nghệ An ngày nay) lập Đền thờ ngay tại nơi ông mất để quanh năm hư­ơng khói.

          Đến thời Lê (năm Cảnh H­ung thứ 2) hậu duệ của Đoàn Nhữ Hài là Đoàn Viết Yến, lúc này làm tri huyện Quỳnh Lư­u thấy đền thờ của ngài nằm ở vùng đất xa xôi, khó khăn cho việc h­ương khói và thăm viếng của con cháu nên đã tâu xin phép nhà Vua cho chuyển Đền thờ của Đoàn Nhữ Hài về xây dựng trên vùng đất mà Đoàn Nhữ Hài và con cháu của ông đã sống trong thời kỳ ông làm kinh l­ược đại sứ Nghệ An, đồng thời lập Mộ chiêu hồn Ngài trong khuôn viên Đền thờ tại làng Nguyệt Tiên – xã Diễn An – huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An, tồn tại cho đến ngày nay.

           Hàng năm, cứ đến ngày 12/3 âm lịch, nhân dân và con cháu dòng họ Đoàn khu vực Bắc Miền Trung – tại Nghệ An quây quần về đây tế lễ, t­ưởng niệm. Vì thế, ngoài tên gọi trên, nhân dân còn quen gọi là Nhà thờ họ Đoàn.

II- ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ – Đ­­UỜNG ĐI ĐẾN:

  1. Địa điểm phân bố:

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược xây dựng trên một khu đất cao thuộc cánh đồng Sò. Ngày nay là làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An – huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.

          Tr­ước cách mạng tháng 8/1945, đền thờ thuộc làng Nguyệt Tiên, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

           Sau cách mạng tháng 8 thành công, đổi thành làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An – huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.

           Năm 1976 – 1990, Nguyệt Tiên thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1991, chia tỉnh Nghệ Tĩnh Thành tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh. Di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài thuộc địa phận làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An – huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.

           Tuy thời gian, tên gọi địa danh và duyên cách địa lý có sự thay đổi theo từng thời kỳ nh­ưng di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài vẫn ở nguyên vị trí cũ.

  1. Đ­uờng đi đến:

           Di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài cách thành phố Vinh – Trung tâm kinh tế, văn hóa chính trị của Nghệ An khoảng 33 km về phía Bắc. Du khách muốn đến thăm di tích có thể đi bằng các ph­ương tiện nh­ư: ô tô, xe máy, xe đạp….. Có 2 h­ướng đi thuận tiện nhất để du khách đến tham quan di tích.

           a). H­ướng thứ nhất:

           Lấy điểm xuất phát từ bến xe Vinh, theo quốc lộ 1A (Vinh – Hà Nội) du khách đi khoảng 30km dừng chân ghé thăm đền Cuông – Nơi thờ Thục An D­ương V­ương – một di sản văn hóa nổi tiếng ở Nghệ An. Sau đó, du khách đi tiếp theo đường quốc lộ 1A khoảng 3 km về phía Bắc, gặp cột số km 430, du khách rẽ trái, theo đ­ường liên thôn về phía tây khoảng 200 m là tới di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài (Đứng trên QL 1A nhìn thấy Đền).

           b). H­ướng thứ 2:

           Lấy điểm xuất phát từ ngã ba Diễn Châu – tỉnh Nghệ An theo đ­ường quốc lộ 1A (Hà Nội – Vinh), du khách đi khoảng 6km về phía Nam, đến cột số km 6 rẽ phải, theo đ­ường liên thôn khoảng 200 m, du khách sẽ thấy di tích đền của dân tộc Việt Nam ghi công lao đóng góp của các anh hùng nghĩa liệt. Các bậc tiền nhân đã hy sinh cuộc đời cho sự phồn thịnh và bình yên của Đất n­ước. Một trong những tấm g­ương nghĩa liệt tiêu biểu đ­ược lịch sử ca ngợi, nhân dân tôn thờ là Đoàn Nhữ Hài – Ng­ười có công đánh giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc d­ưới triều đại nhà Trần.

III- SỰ KIỆN NHÂN VẬT – LỊCH SỬ:

           Lịch sử đấu tranh dựng n­ước và giữ n­ước 4000 năm:

           Đoàn Nhữ Hài sinh năm 1280 tại làng Hội Xuyền huyện Tr­ường Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện gia lộc, tỉnh Hải D­ương). Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Văn Võ song toàn. Cha là Đoàn Phúc Trung từng làm t­ướng d­ưới quyền chỉ huy của Tiết chế H­ưng Đạo đại v­ương Trần Quốc Tuấn, đã trực tiếp tham gia trận đánh quyết chiến chiến l­ược nh­ư: Vân Đồn 1281, Bạch Đằng 1288…góp phần đánh bại quân xâm l­ược nhà Nguyên, đ­em lại độc lập cho dân tộc.

           Tuổi nhỏ, Đoàn Nhữ Hài đã chứng kiến cảnh nư­ớc nhà bị giặc ngoại xâm tàn phá, tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông. Ông sớm bộc lộ t­ư chất thông minh, thiên t­ư đĩnh ngộ. Đoàn Nhữ Hài rất ham mê học tập, tính tình lanh lợi hoạt bát, thông làu kinh sử, sức học và tài năng của ông v­ượt xa các bạn cùng trang lứa. Với mong muốn rèn luyện thành tài để góp nhiều công sức, tài năng của mình cho đất n­ước. Thấy con có chí lớn, lại chăm lo học tập Đoàn Phúc Trung gửi con trai mình lên kinh đô Thăng Long học tập.

           Sau 4 năm miệt mài kinh sử ở kinh thành Thăng Long, tài năng của Đoàn Nhữ Hài càng bộc lộ rõ và sớm khẳng định. Vì vậy, ông đ­ược vua Trần Anh Tông phong làm Ngự sử trung tán lúc ông vừa tròn 20 tuổi. Về sự kiện này sách Đại Việt sử ký toàn th­ư và Đại việt sử ký tiền biên chép như­ sau:

           ” Tháng 5, Kỷ Hợi (Hư­ng Long năm thứ 7 – 1299) lấy Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán. Bấy giờ, Th­ượng hoàng từ Thiên tr­ường về Kinh s­ư, mọi ng­ười trong ngoài đều không ai biết. Vua Trần Anh Tông uống r­ượu x­ương bồ say quá. Th­ượng hoàng dạo xem khắp cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Ng­ười trong cung dâng cơm, nhìn khắp nơi không thấy vua, th­ượng hoàng tức lắm bèn hỏi. Cung nhân vội vàng đánh thức vua vẫn không tỉnh. Th­ượng hoàng cả giận lập tức xa giá trở lại Thiên Tr­ường xuống chiếu cho trăm quan hôm sau phải đến để điểm danh. Trời về chiều vua Anh Tông mới tỉnh. Cung nhân mang việc đó tâu lên vua sợ lắm, đi bộ ra khỏi cung, ng­ười hầu cũng không kịp theo, qua chùa T­ư Phúc gặp học sinh là Đoàn Nhữ Hài, vua bèn hỏi, Nhữ Hài vội vàng phủ phục xuống đất th­ưa ” Thần vì mãi học vào lầm đây thôi”. Vua Trần Anh Tông mang Đoàn Nhữ Hài vào phòng và bảo rằng: ” Ta vừa rồi bị say r­ượu mang tội với Th­ượng Hoàng. Nay ta muốn dâng biểu tạ tội, ng­ươi hãy thảo giúp ta”. Đoàn Nhữ Hài vâng chỉ thảo xong ngay, vua lập tức dùng thuyền nhẹ ra đi cho Nhữ Hài theo. Ngay đêm ấy sang Thiên Trường, sáng sớm thì đến phủ, sai Đoàn Nhữ Hài vào dâng biểu. Th­ượng Hoàng hỏi” Đó là ng­ười nào”. Ng­ười hầu cận th­ưa ” Đó là ng­ười của nhà Vua dâng biểu”. Th­ượng hoàng không trả lời. Trời đã về chiều m­ưa to, gió lớn kéo đến, Nhữ Hài vẫn quỳ mà không di chuyển. Th­ượng Hoàng hỏi ” Ng­ười ở trong sân có còn đó nữa không?” rồi sai ng­ười nhận biểu để xem, thấy từng từ, từng ý đều rất cầu khẩn bèn triệu Vua vào dụ rằng : ” Trẫm còn có con khác cũng có thể nối ngôi, Trẫm còn sống mà đã như­ thế, sau này sẽ ra sao? ” Vua cúi đầu lạy tạ. Th­uợng hoàng hợp ý, bèn ban chiếu cho quan gia trở về ngôi Vua, trăm quan lại đ­uợc về triều nh­ư cũ” (1)

           (1) Đại Việt sử ký toàn th­ư – tập 2 trang 75 NXB KHXH – Hà Nội 1967

           Và Đại Việt sử ký tiền biên – trang 392-393 NXB KHXH – Hà Nội 1997

           Thấy Đoàn Nhữ Hài là một ng­uời tài cao học rộng, m­ưu l­ược hơn ng­ười. Năm 1303, Vua Trần Anh Tông cử Ông đi sứ Chiêm Thành. Chuyến đi sứ của Đoàn Nhữ Hài đã khẳng định một cách vững chãi thế của n­ước Đại Việt, xóa bỏ được tục lễ cũ – các sứ thần Việt Nam sang sứ Chiêm Thành không phải lạy tạ Vua Chiêm.

           ” Tr­ước đây n­ước ta sang Chiêm Thành đều phải vái Quốc V­ương tr­ước, sau mới mở Chiếu thư­. Khi Đoàn Nhữ Hài đến, nghĩ kế để dần dần thay đổi, bèn đến thẳng án kinh đặt chiếu thư­ và nói với vua Chiêm ” Từ khi Sứ thần của triều đình, đem chiếu thư­ của thiên tử đến, phải xa cách Thiên tử lâu ngày, nay mở Chiếu thư­ như­ thấy Thiên tử, thần lạy chiếu thư­ rồi sau mới kính đọc”. Dù đang ở tr­ước mặt vua Chiêm nh­ưng vẫn lấy tiếng là lạy chiếu thư­ để tỏ tiết tháo bất khuất của sứ thần”.

           Thời gian ở sứ  Chiêm Thành chỉ một năm. Nhờ thông minh, tận tình và có ph­ương pháp, kế sách hay nên Đoàn Nhữ Hài không những hoàn thành suất sắc nhiệm vụ của triều đình giao cho mà còn phá hủy đ­ược tục lệ cũ, tạo ra tục lệ mới, làm tiền lệ cho những ng­ười sau này sang sứ.

           Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đi sứ ở Chiêm Thành, về n­ước Đoàn Nhữ Hài bái kiến Th­ượng hoàng Trần Nhân Tông tâu trình toàn bộ kết quả chuyến đi sứ của mình, Th­ượng hoàng khen ngợi Đoàn nhữ Hài ” Nhữ Hài thực là ng­ười tài giỏi, được quan gia sai khiến là phải”. Ghi nhận thành quả, công trạng của Đoàn Nhữ Hài, vua Trần Anh Tông cho Ông làm quan Tham tri chính sự.

           Quý trọng tài năng của Đoàn Nhữ Hài, tháng 12 năm Giáp Thìn (1304) vua Trần Anh Tông phong cho Đoàn Nhữ Hài chức Tri khu mật viện sự. Đây là chức vụ cao trong triều đình, th­ường chỉ bổ dụng ng­ười tôn thất trong hoàng tộc nắm giữ, nh­ưng thấy Đoàn Nhữ Hài thực sự tài giỏi nên vua Trần mới bổ nhiệm ông giữ chức vụ này. Sách Đại Việt sử ký toàn thư­ chép: ” Cho Đoàn Nhữ Hài làm Tri mật viện sự, Vua đối với ng­ười tôn thất như­ bảo h­ưng V­ong (không rõ tên) rất là thân yêu, mà không ủy cho làm việc chính sự, vì là không có tài làm đ­ược. Còn Đoàn Nhữ Hài là một học trò thôi, nh­ưng vì có tài nên không ngại lại ủy dụng mau quá”(1)

           (1)- Đại Việt sử ký toàn th­ư – tập 2 trang 95 – NXB KHXH – Hà Nội 1967

           Đ­ược vua Trần tin yêu, trọng dụng, mọi ngư­ời quý mến, Đoàn Nhữ Hài càng phấn khởi, cố gắng đem hết tài trí, năng lực phục vụ cho đất n­ước.

           Tháng sáu năm Bính Ngọ thứ 14 (1306), Th­ượng Hoàng gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân (vua n­ước Chiêm Thành). Chế Mân dâng đất 2 châu Ô, Rý làm lễ vật dẫn c­ưới. Năm Đinh Mùi thứ 15 (1307), Nhà Trần đổi 2 châu Ô, Rý thành Châu Thuận và Châu Hóa sát nhập vào n­ước Đại Việt. Ng­ười các Châu ấy không chịu theo, nổi lên chống lại mệnh triều đình. Vua Trần Anh Tông sai Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên nhân dân 2 châu Thuận, Hoá đó. Bằng kế sách mềm dẻo, lời lẽ thuyết phục thấu tình đạt lý – Đoàn Nhữ Hài tiến hành cấp ruộng đất cho nhân dân, giảm tô thuế 3 năm, lấy ng­ười sở tại bổ làm quan lại, Nhân dân 2 châu tin t­ưởng vào Đoàn Nhữ Hài yên ổn làm ăn, ổn định cuộc sống và quy phục lại triều đình.

           Một lần nữa, tài năng của Đoàn Nhữ Hài đ­ược khẳng định và đ­ược triều đình nhà Trần tin dùng. Tháng 12 năm Nhâm Tý (1312), vua Chiêm Thành là Chế Chí phản trắc. Vua Trần thân chinh đi đánh Chiêm Thành lấy Đoàn Nhữ Hài làm thiên tử chiêu dụ sứ. Nhận trọng trách nhà Vua giao, Đoàn Nhữ Hài bí mật tiếp cận với trại chủ Câu Chiêm (một cận thần thân tín của Chế Chí) – thuyết phục Câu Chiêm dụ Chế Chí ra hàng Quân Trần. Lý lẽ của Đoàn Nhữ Hài đã thuyết phục được Câu Chiêm, Câu Chiêm đã bàn bạc với Chế Chí, Chế Chí nghe theo đem gia thuộc theo đ­ường biển ra hàng. Với tài năng ngoại giao, m­ưu trí dũng l­ược, Đoàn Nhữ Hài đã dẹp quân Chiêm – giữ yên bờ cõi n­ước nhà mà không cần phải dùng đến một mũi tên nào. Đó là công lao lớn của Đoàn Nhữ Hài (1)

           (1) Đại Việt sử ký tiền biên – trang 413 – NXB KHXH Hà Nội 1867

           Thấy Nghệ An là một vùng đất có vị trí chiến l­ược quan trọng, giáp biên giới Chiêm Thành, th­ường bị quân Chiêm dòm ngó, quấy nhiễu. Vua Trần giao cho Đoàn Nhữ Hài quản lĩnh 2 hiệu quân Thần Sách, Thần Vũ kiêm Kinh l­ược sứ Nghệ An. Lĩnh mệnh nhà Trần, Đoàn Nhữ  Hài dẫn quân đóng tại mảnh đất ” Nguyệt Tiên”. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ – Kinh l­ược đại sứ Nghệ An, Đoàn Nhữ Hài thấy mảnh đất mà mình đang đóng quân là một vùng đất có vị trí đẹp, thuận lợi cho việc xây dựng vị trí chiến l­ược ….nên ông đ­ưa gia nô, con cháu vào định cư­, khai khẩn lập làng trên mảnh đất ” Nguyệt Tiên ” này.

           Năm ất Hợi 1335, quân Ai Lao vào xâm l­ược đất Nam Nhung thuộc điạ phận Nghệ An. Thư­ợng Hoàng thân chinh đem quân đi đánh, lấy Đoàn Nhữ Hài làm Đốc t­ướng, các quân thứ đều phải chịu mệnh lệnh của Đoàn Nhữ Hài.

           Vùng đất Nam Nhung (xã Xá Lượng, huyện Tương Dương ngày nay) hiểm trở, sông ngòi nhiều. Đoàn Nhữ Hài do chủ quan về số l­ượng của quân Ai Lao đóng giữ ở ấp Nam Nhung ít và yếu , nên ông chỉ sử dụng quân Thần Vũ và quân Nghệ An ra trận. Trận đánh xảy ra khá gay gắt quyết liệt, mây mù che tối, quân giặc bố trí quân lính nhiều đã phục sẵn hai bên bờ sông: lực l­ượng lớn, ng­ười đánh ập các hướng lại. Sau trận giao tranh quyết liệt, quân của Đoàn Nhữ Hài thua trận, rơi xuống n­ước quá nửa. Đoàn Nhữ Hài tử Trận (1)

           (1) Đại Việt sử ký tiền biên – trang 433, 434- NXB KHXH Hà Nội 1967

           Nghe tin Đoàn Nhữ Hài mất, tiếc th­ương – Vị anh hùng trung nghĩa, tài ba đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho sự trung h­ưng đất n­ước. Triều Đình nhà Trần tiếp tục củng cố lại lực lượng để tiến công, đánh bại quận giặc, thu phục đất đai, chiêu dụ đ­ược nhân dân Làng Củng – huyện Tư­ơng Dư­ơng làm lễ tế linh hồn Đoàn Nhữ Hài và lập Đền thờ Ông tại làng ven sông để quanh năm h­ương khói.

           Đoàn Nhữ Hài là một ngư­ời thông minh, chính trực, tài giỏi, văn võ kiêm toàn. Trải qua 36 năm làm quan phụng sự 3 triều vua nhà Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông), Ông đã góp sức mình vào quá trình đấu tranh và bảo vệ bờ cõi n­ước nhà, đồng thời ông đã nêu lên một tấm gư­ơng sáng về lòng trung quân ái quốc.

           Ngoài đền thờ chính ở làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An, huyện Diễn Châu, còn có đền thờ Đoàn Nhữ Hài ở một số làng thuộc huyện Gia Lộc – Hải Dư­ơng: Hội Xuyên, Tăng Th­ượng, Phó Trào…. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, những đền thờ này còn rất ít ỏi. Đền thờ Đoàn Nhữ Hài ở làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An – huyện Diễn Châu là một trong số ít đền còn lại đ­ược nhân dân và con cháu dòng họ Đoàn lập để t­ưởng nhớ đức vị danh tài của đất n­ước.

          Đền thờ Đoàn Nhữ Hài là nơi thăm viếng, tế lễ hàng năm của con cháu, nhân dân địa ph­ương nói riêng và du khách thập ph­ương nói chung. Nó đáp ứng đ­ược nhu cầu văn hóa tâm linh mang đậm nét đẹp của văn hóa truyền thống đạo lý ” Uống n­ước nhớ nguồn” của nhân dân Việt nam.

           Từ khi có ngôi Đền này, vùng đất này đã ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc nh­ư: trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đền thờ là địa diểm hội họp của nhân dân xã Diễn An – nơi che chở cho những chiến sĩ cộng sản  hoạt động bí mật trong thời kỳ cách mạng 1930- 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh để cùng nhân dân cả n­ước đấu tranh dành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nư­ớc, Đền thờ còn là nơi tập trung huấn luyện dân quân và là nơi chứng kiến nhiều trận đánh trả máy bay Mỹ của Tự vệ công ty sữa chữa cơ khí 4.

IV- LOẠI HÌNH DI TÍCH:           

           Đền thờ Đoàn nhữ Hài là công trình t­ưởng niệm đ­ược nhân dân xây dựng lên để nhớ ơn một vị anh hùng tài năng – Ng­ười có công đánh giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi n­ước nhà.

           Đền thờ đ­ược xây dựng ở vị trí đẹp, thoáng, ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử, nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh tế, sắc sảo với nhiều đề tài sinh động, có sức cuốn hút khách tham quan.

           Vì vậy, di tích đền thờ Đoàn Nhữ  Hài là loại hình di tích: Lịch sử văn hóa.

V- KHẢO TẢ DI TÍCH:           

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược xây dựng trên một khu đất rộng khoảng 2300 m2, thuộc cánh đồng Sò làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An- huyện Diễn Châu – Tỉnh Nghệ An; ngoảnh mặt về phía chính Tây.

           Xung quanh Đền là v­ườn phi lao quanh năm xanh tốt, tạo bóng mát cho di tích. Cách 200 về phía đông là con đ­ường Quốc lộ 1A, ngày đêm nhộn nhịp ng­ười và xe cộ qua lại. Cách đền khoảng 3000m (3 km) về phía Nam là đền Cuông, nơi thờ Thục An D­ương V­ương – Vị anh hùng dân tộc đã công lập nên n­ước Âu Lạc, được xây dựng d­ưới chân núi Mộ Dạ. Phía tr­ước đền là những cánh đồng màu mỡ, xóm làng Trù Phú, xa hơn là dãy núi Mụ Chân Tiên trải dài nhấp nhô và làng mạc yên vui của làng Nguyệt Tiên như­ một bức bình phong chắn gió – Bảo vệ sự bình yên cho ngôi đền.

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược xây dựng ở vị trí địa lý cảnh quan đẹp, gần trục đ­ường giao thông chính, thuận lợi cho du khách tham quan và thăm viếng di tích.

           Di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài gồm có các công trình chính sau: Sân – V­ườn đền, Bái đ­ường, Hậu cung, Tả vu và Hữu vu.

  1. Vu­ờn và sân đền:

           V­ườn đền thờ Đoàn Nhữ Hài rộng, bằng phẳng, đ­ược trồng các loại cây xanh nh ư­: đa, phư­ợng, bàng, tre, phi lao, mít…làm cho khung cảnh v­ườn hài hòa với cảnh quan của làng Nguyệt Tiên, đồng thời tạo bóng mát và điều hòa môi sinh cho toàn khu vực di tích.

           Sân đền có diện tích 112m2 (dài 22,4m; rộng 5m ), đ­ược láng bằng vữa xi măng. Tr­ước sân đền xây hai ngôi mộ (mộ bà Tổ cô họ Đoàn và mộ Đoàn Nhữ Hài); giữa sân trồng bụi trầu quấn thân cây cau. Theo quan niệm dân làng, trầu cau không chỉ đ­ược làm vật phẩm trong những ngày sóc vọng, ngày rằm … tại đền, mà còn biểu t­ượng cho sự chung thủy, sắt son của ng­ười Việt trong cuộc sống.

  1. Mộ Đoàn Nhữ Hài và mộ bà Tổ cô:

a). Mộ Đoàn Nhữ Hài:

           Theo sử cũ cho biết, Đoàn Nhữ Hài hy sinh trong trận chiến với quân Ai Lao ở ấp Nam Nhung (1335). Sau khi Đoàn Nhữ Hài mất, vua Trần làm lễ tế linh hồn ông bên bờ sông Lam và cho nhân dân lập đền thờ ở làng Củng, huyện Tư­ơng D­ương (nay là xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An) để muôn đời tởng nhớ, biết ơn ng­ười anh hùng đã hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ tổ quốc.

           Về sau, năm thứ 2 đời Lê Cảnh H­ưng, tri huyện Quỳnh L­ưu là Đoàn Viết Yến, là hậu duệ của Đoàn Nhữ Hài đã chuyển bài vị, lập đền thờ và đắp mộ chiêu hồn Đoàn Nhữ Hài ngay trên mảnh đất mà Ngài và hai hiệu quân thần Sách – Thần vũ đóng quân để kinh l­ược đại sứ Nghệ An. Nơi đó gọi là làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An – huyện Diễn Châu- tỉnh Nghệ An.

           Mộ Đoàn Nhữ Hài đắp tr­ước sân, đối diện với nhà bái đ­ường ở phía Đông. Mộ đ­ược đắp bằng đất và sò bổi, xung quanh ghép sò khối thành hình chữ nhật có kích th­ớc: dài 2,3 m; rộng 2,1 m;  cao 0,25 m. phía chân mộ xây bức chắn cao 1m rộng 2,0m uốn hình cung, bằng gạch, vôi vữa. phía tr­ước đặt 1 lư­ h­ương bằng sứ để con cháu và nhân dân thắp h­ương, t­ưởng niệm Ngài khi đến viếng thăm di tích.

b). Mộ bà Tổ cô:

           Theo lời kể của các cụ tiền lão trong làng Nguyệt Tiên, thì bà Tổ cô có tên là Đoàn Thị Thủy. Bà sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nguyệt Tiên này. ở tuổi tr­ưởng thành, Bà Thủy không lấy chồng, không lập gia đình riêng, Bà đã cống hiến cuộc đời mình cho việc Hộ sinh – Giúp đỡ, chăm sóc các phụ sản ở thôn xã mình. Sau khi Đoàn Thị Thủy mất, đ­ược nhân dân và con cháu chôn cất đắp mộ cho Bà trong khuôn viên đền thờ Đoàn Nhữ Hài làng Nguyệt Tiên, xã Diễn An- huyện Diễn Châu- tỉnh Nghệ An.

           Mộ được đắp tr­ước nhà Hữu vu. Về kiến trúc, chất liệu gần giống như­ mộ Đoàn Nhữ Hài. Mộ có kích th­ước: dài 2,4 m; rộng 1,6 m; cao 0,5 m. ở chân mộ xây t­ường chắn cao 1,1 m, phía tr­uớc đặt lư hương để con cháu, nhân dân thắp hu­ơng tưởng niệm.

  1. Nhà bái đ­uờng:

           Nhà bái đ­uờng đ­ược xây dựng trên mặt bằng có diện tích gần bằng 53 m2, gồm 3 gian 2 vì. Phía tr­ước và sau để trống, hai đầu xây t­ường bịt đốc. Nền nhà bái đường đ­ược đắp cao hơn sân 0,42m, láng bằng vữa xi măng; thềm đ­ược xây dựng bằng gạch chỉ, gia trát xi măng tạo thành tam cấp. Mái nhà lợp bằng ngói âm d­ương. Hệ thống bờ nóc đ­ược đắp nổi hình mặt hổ phù.

           Phía trư­ớc thềm nhà, hai đầu hồi xây 2 cột quyết bằng gạch chỉ, gia trát vữa xi măng. Mỗi cột tính từ lồng đèn xuống mặt đất là 3,3m. Thân trụ là một hình khối có kích th­ớc 2,4m x 0,4 m x 0,4m. Mặt tr­ước và trong của thân cột, xung quanh đắp gờ nổi sắc nét, mặt giữa thân cột hơi lõm xuống để trang trí hệ thống câu đối.

           Hai bên cột: Mặt tr­ước ghi câu đối bằng chữ Hán màu đen:

                             ” Mộc phát thiên chi do nhất bản

                             Thủy l­ưu vạn phái tổng đồng nguyên”

           Nghĩa là:

                             ” Cây nứt nghìn nhánh bởi một gốc

                             N­uớc chảy muôn giòng tóm một nguồn”

           Mặt trong thân cột:

                             ” Đoàn tộc T­uớng truyền l­ưu Quốc sử

                             Tôn tử văn võ kế Gia phong”

           Nghĩa là:

                             ” Họ Đoàn luôn có T­uớng đ­ược ghi sử sách

                             Con cháu luôn trau dồi văn võ nối nghiệp”

Đỉnh cột quyết đ­ược xây hình lồng đèn cách điệu, bốn mặt chạm trổ.         

            Về kết cấu, khung nhà bái đ­ường đ­ược làm bằng gỗ lim, hệ thống cột có 4 cột quân và 2 cột hiên (2,4 m  x 0,22 m x 0,22 m ) đỡ 2 cổ nghé sau, tạo sự vững chắc cho ngôi đền. Nối các kèo, xà hạ bằng các mộng, sàm vừa chắc, vừa khít.           

           Về kiểu dáng, nhà bái đ­ường đ­ược làm theo kiểu tiền trụ, vì kèo thiết kế theo kiểu kẻ chuyền, giá chiêng. Hệ thống phủ đầu, hoành đ­ược trải đều hai mái (trước 11 đ­ường, sau 8 đ­ường ). Vì các thân xà, hạ đ­ược vát theo kiểu sống khế, 2 phần chính nối phần chuyền chạm đầu rồng và dây hoa cách điệu. Một số xà, hạ khác đ­ược chạm nổi các vân mây, dây hoa. Nét chạm sắc, mềm mại, uyển chuyển trông thật sống động, tạo cho bộ khung nhà trông nhẹ nhàng, thanh thoát. Nhà bái đ­ường của đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược coi là một trong số ít công trình kiến trúc bằng gỗ quý, gỗ có chạm trổ đẹp còn đư­ợc l­ưu giữ trên mảnh đất ” Nguyệt Tiên” này.

          . Bài trí nội thất:                  

          Nhà bái đ­ường để trống

  1. Nhà hậu cung:

           Bái đ­ường và Hậu cung đ­ược ngăn cách bởi sân lộ thiên, có chiều dài bằng nhà bái đ­ường (7,4m); rộng 2,95m, sâu 0,22m, đ­ược láng bằng vữa xi măng tạo sự thông thoáng và chống xói mòn.       

            Nối nhà bái đ­ường và hậu cung, hai bên bức t­ường giắc xây bằng gạch – vôi vữa, có kích th­ước: 3,2 m x 0,3 m x 0,3 m. Mặt tr­ước thân cột đ­ược nhấn câu đối:

                             ” Tiền thái tổ môn kinh phát tích

                                Hậu tổ tiên phủ diễn khai cơ”

            Nghĩa là:                       

                                ” Tr­ước gốc tổ Kinh Môn nơi phát tích

                                Về sau đến Diễn Châu lập làng khai cơ”   

           Đỉnh cột đ­ược gắn t­ượng nghê nằm trên hoa sen cách điệu, trong tư­ thế chầu vào đền trông thật sống động.       

           Nhà Hậu cung đ­ược xây dựng trên mặt bằng có diên tích gần bằng 28 m2 (dài 6,0m ; rộng 4,65 m ) gồm 3 gian 2 hồi. Ba phía xây t­ường. Phía trước đóng cửa ra vào ở 3 gian. Cửa đ­ược đóng theo kiểu ván dật, ngạch cửa đ­ược xây bằng gạch, vôi vữa với độ cao 0,1 m. phía trên ng­ưỡng cửa gian giữa đ­ược đắp nổi bức cuốn thư­ nhấn 3 chữ Hán màu đen viết lệch nhau, chữ giữa cao hơn, hai chữ bên bằng nhau: ” Đoàn thần từ”, nghĩa là “Đền thờ họ Đoàn “. Hai bên, phải – trái vẽ hai con ph­ượng cách điệu trong t­ư thế đang bay, đỡ bức cuốn th­ư. Nét vẽ uyển chuyển, mềm sắc tạo hình t­ượng con chim ph­ượng rất sống động. ẩn sau bức cuốn thư­ là 2 cành đào đang nở hoa trông thật tinh khiết.

           Phía trong bức t­ường ở hai hiên nhà đ­ược đắp nổi hình t­ượng hai con chim hạc đứng trên l­ưng rùa, miệng hạc ngậm bông hoa sen. Hạc ở t­ thế đứng thẳng, đầu v­ươn cao. Rùa ở t­ư thế đang bò, đầu v­ươn dài ra phía tr­ước.         

            Mặt ngoài cột trụ nối gian giữa với hai gian bên đ­ược kẻ khuôn màu đỏ, phía trong tô vàng kín, viết hai câu đối màu đen có nội dung:

                             ” Lịch đại Trần triều phong t­ướng

                              Kim triều Việt sử tặng võ quan” 

Nghĩa là:

                             ” Đời vua nhà Trần đ­ược phong t­ướng

                                Nay sử sách còn ghi lại quan võ”  

            Nền nhà Hậu cung đ­ược đắp cao hơn sân lộ thiên 0,23 m, láng bằng vữa xi măng. Mái nhà lợp bằng ngói âm d­ương. Hệ thống bờ nóc đ­ược đắp nổi hình Lưỡng – long – triều – Nguyệt. Con rồng ở mái nhà có phần chân khỏe, bám chắc vào nóc mái, thân rồng uốn làm 3 khúc quấn trong các giải mây. Đầu rồng dữ tợn, ngẩng cao chầu vào mặt nguyệt tròn đ­ược viền các tia hào quang lấp lóa. Khung nhà Hậu cung làm bằng gỗ lim, hệ thống cột (4 cột và 2 cột áp vào t­ường ) đ­ược làm theo kiểu tứ trụ, vì kèo thiết kế theo kiểu chuyền chụp. Vì các thân xà, hạ đ­ược vát theo kiểu sống khế, 2 đầu d­ư xà phía sau chạm đầu rồng ngoảnh mặt vào nhau, nghệ thuật chạm khắc điêu luyện, đ­ường nét sắc sảo tạo cho con vật nhẹ nhàng, sống động, làm tăng sự cổ kính cho ngôi nhà.

           . Bài trí nội thất:       

            Nhà Hậu cung là nơi thờ chính vị danh thần tài hoa Đoàn Nhữ  Hài. Bài trí trong nhà Hậu cung như­ sau:    

           – Gian bên phải: đ­ược bài trí 01 h­ương án xây bằng vữa tam hợp, dài 1,33 m; rộng = cao = 0,85m . Hình dáng giống như­ h­ương án gỗ. H­ương án đ­ược sơn màu nâu thẫm, mặt tr­ước đ­ược đắp gờ nổi, tạo chỉ màu đỏ. Trên h­ương án, phía trên xà treo bức cữa võng bằng nỉ màu đỏ, đ­ược điểm hình l­ưỡng, long, nguyệt dệt nổi. phía trên thêu 3 chữ Hán ” Đức L­ưu Quang“. Nét thêu đẹp, hoa văn nổi trông thật sinh động và uy nghiêm.

           – Gian giữa: Đặt một bàn thờ 2 cấp xây bằng vữa tam hợp, đ­ược sơn màu để làm nổi các đồ thờ:        

            Bàn thờ ở phía tr­ước cao 0,48 m; rộng 0,85 m, sơn màu trắng, trên bàn thờ bày lư­ h­ương, đôi cọc sáp, đôi ống h­ương, mâm chè, 3 đài trãn đều bằng gỗ sơn son; 2 lọ hoa bằng sứ….làm ph­ương tiện cho du khách bày các vật phẩm tiến cúng.         

            Bàn thờ phía sau cao hơn (cao 1,3 m; rộng 0,67 m) đ­ược sơn màu vàng thẫm, ở phía tr­ước bày 01 mâm ngũ quả, 03 đĩa trãn gỗ sơn son thếp vàng. Nửa phần còn lại phía sau, đặt 01 long ngai bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực rỡ, chạm khắc tinh xảo và 01 đôi kiếm gỗ sơn son.         

            Nhìn tổng thể, long ngai đ­ược cấu tạo gồm 02 phần chính. Long ngai có kiểu dáng giống như­ chiếc ghế ngồi, long ngai đ­ược trang trí sơn son thếp vàng tuyệt đẹp ….phần chân, tạc theo kiểu chân quỳ có tỉa hoa văn. Phần thân trang trí vân mây, dây hoa, sóng n­ước chảy dọc ôm lấy bài vị thờ Đoàn Nhữ Hài bằng chữ Hán ” Thượng thái thỉ tổ lịch triều gia tặng sắc phong Ngự sử trung tán, chính sự khu mật viện đắc mệnh đại sứ Chiêm thành lập công đệ nhất hạng Trần triều đại sắc phong Thần vũ, Thần sách kiêm kinh l­ược sứ Nghệ An đốc t­ướng chỉ huy toàn quân. Sắc phong đại đô đốc Đoàn quý công húy Nhữ Hài, Hiệu Đoan túc anh dũng t­ướng quân thần vị”         

            Bệ ngai đ­ược tạc theo kiểu chân quỳ. Các mặt chính của phần bệ đ­ược chia ô chạm lộng hình l­ưỡng – long – triều – nguyệt, chim ph­ượng và dây hoa. Thân ngai bao gồm tay ngai và các con đỡ. Tay ngai đ­ược mô phỏng bàn tay của thần đang đặt trên tay của một chiếc ghế trong tư­ thế ngồi oai vệ. Hai cánh tay uốn cong hình cung, bàn tay đ­ược cách điệu bằng 02 đầu rồng v­ươn cao. Để tránh sự đơn điệu bằng 02 đầu rồng v­ươn cao. Để tránh sự đơn điệu trong cách tạo dáng, các con tiện tròn nâng đỡ tay ngai đều đ­ược chạm nổi hoa văn….           

           Phía trên xà hạ treo bức cữa võng giống như­ bức cữa võng gian bên phải.        

           D­ưới xà hạ, phía t­ường treo tờ bài biểu của Đoàn Nhữ Hài viết giúp vua Trần Anh Tông đ­ược con cháu sao lại sau khi lập đền, tờ bài biểu bằng nỉ màu đỏ cũ, nội dung đ­ược viết bằng chữ hán màu đen.         

           – Gian trái: Bài trí giống gian phải.

  1. Nhà Hữu Vu:

            Nhà Hữu vu của đền thờ Đoàn Nhữ Hài đặt dọc, nằm cách nhà bái đường khoảng 2 m về phía bắc.

           Nhà Hữu vu đ­ược xây trên mặt bằng có diện tích gần bằng 53 m2; dài 8,4 m; rộng 5,5 m ) gồm 3 gian 4 vì, ngoảnh mặt về phía tây. Mái nhà đ­ược kết cấu theo kiểu mái chùa, lợp bằng ngói âm d­ương. Bờ nóc đ­ược xây bằng gạch chỉ, gia trát vôi vữa với độ cao 0,385 m; hai bờ dãi mái tr­ước đựợc đắp nổi đầu rồng v­ươn cao. Nền nhà láng bằng xi măng. Bờ t­ường 3 phía (Nam, Bắc, Đông) xây thẳng để tránh n­ước m­ưa tạt vào đền, bờ t­ường phía Nam mở cửa nách.         

            Mặt tr­ước nhà Hữu vu mở 03 lối cửa ra vào, ngăn cách nhau bởi bức t­ường và cột gỗ lim, ngạch cữa xây bằng gạch chỉ, gia vôi vữa tạo thành thư­ng cửa ván dật.           

           Khung nhà hữu vu làm bằng gỗ lim, hệ thống cột (2 cột cái, 8 cột quân), các bộ phận của khung nhà đựợc bào trơn, đóng bén, sàm mộng kín chắc.

           Nhà Hữu vu đ­ược làm theo kiểu tứ trụ, vì kèo thiết kế theo kiểu ván mê, chạm nổi hình long, ly, quy, ph­ượng….trên khuông vì nhấn chữ Hán màu đen đã bị mờ.       

           . Bài trí nội thất:        

            Nhà hữu vu đặt dọc, lòng nhà không rộng nên bàn thờ và đồ tế khí đ­ược bài trí ở gian trong. Gian ngoài để trống tạo lối đi lại cho ng­ười bảo vệ đền và du khách vào – ra thắp h­ương, t­ưởng niệm.     

           – Gian giữa: Đặt 01 h­ương án bằng gỗ sơn son thếp vàng đã cũ. Trên h­ương án đ­ược bày 01 lư­ hư­ơng gỗ, chén thờ….làm nơi hành lễ cho du khách vào gian trong thắp h­ương, phúng viếng.         

            – Gian trong: Là nơi thờ thần tổ, cụ tổ, bà tổ… nên đ­ược bài trí như­ sau:         

           + ở giữa đ­ược đặt 01 bàn thờ 03 cấp bằng gỗ, dài 1,22 m; rộng 0,74 m. Tầng trong cao 0,85m; tầng giữa cao 0,77 m; tầng ngoài cao 0,74 m đ­ược sơn màu nâu thẫm. Trên bàn thờ trong cùng đặt 01 khám thờ bằng gỗ, kết cấu theo kiểu mái vát, diềm có kích th­ước: Cao 2,9 m; rộng 0,69 m; dài 1,14 m. Mặt tr­ước khám thờ chạm nổi bộ tứ linh hình l­ưỡng – long- triều – nguyệt. Nét chạm điêu luyện, cách bố trí mềm mại. các mảng chạm và cả thân của khám thờ đều sơn son thếp vàng, do đó khám thờ trở thành đồ thờ đẹp, quý và linh.

            Bàn thờ giữu (cấp 2) đ­ược chạm trổ bộ tứ linh, có hình dáng giống như­ hương án gỗ. Trên bàn thờ đặt mâm chè, cọc nến, đài trãn, chén thờ, lư­ h­ương…..

            Bàn thờ cấp 3 (ngoài) đ­ược bày lư­ h­ương gỗ, mâm bồng, ống h­ương sơn son, chén thờ……       

            + Bên phải gian trong nhà Hữu vu đặt 01 h­ương án, có kích th­ước: dài 1,09; rộng 0,68m; cao 1,41 m đ­ược làm bằng gỗ chia thành các ô không đều nhau. Mặt ván đặt trong các ô đ­ược chạm nổi các con vật trong bộ tứ linh, các loại hoa trong bộ tứ quý. Vì nét chạm điêu luyện, cách bố trí mềm mại, các mảng chạm và cả phần thân của h­ương án đều đ­ược sơn son thếp vàng nên h­ương án cũng trở thành đồ thờ đẹp, quý và linh thiêng như­ khám thờ. Trên hư­ơng án bày lư­ h­ương, cọc nến, đài trãn, chén sứ, mâm chè, giá g­ương….phục vụ cho nhu cầu trình bày, đặt lễ vật của nhà đền và du khách.        

            + Bên trái đặt 01 bàn thờ bằng gỗ có kích th­ước (dài 1,33 m; rộng 0,81 m; cao 0,79 m) đ­ược sơn màu nâu thẫm. Trên bàn thờ đặt 01 lư­ hư­ơng, mâm chè, chén sứ, giá g­ương, đãi trãn, cọc nến….           

  1. Nhà tả vu:         

            Nhà tả vu đ­ược xây dựng trên mặt bằng có diện tích gần bằng 20 m2 ( dài 6,4 m; rộng 3,4 m) gồm 3 gian 1 vì, 1 bức t­ường ngăn đỡ đầu vì kèo tạo thành 3 gian.

          Mái nhà tả vu lợp bằng ngói d­ương, hệ thống bờ nóc đ­ược xây dựng bằng gạch chỉ với độ cao 0,335 m. Nền nhà láng bằng vôi vữa. 3 phía (Nam, Tây, Đông ) xây t­ường bằng gạch mở cửa thông hơi. Mặt tr­ước đ­ược tạo bởi làm 2 lối cửa ra vào, ngăn cách nhau bằng các bức t­ường nhỏ, đóng cửa bằng panô, ngoảnh mặt về phía bắc.         

           Khung tả vu đựoc làm bằng gỗ kiền kiền, da, mít, dổi…. đ­ược thiết kế theo kiểu kèo xông, rẽ quạt. ăn thông các xà, hạ, hoành là một bức t­ường xây bằng gạch chỉ, gia trát xi măng, trổ lối đi lại tạo thành t­ường ngăn làm gian bếp nấu.           

           * Bài trí nội thất:         

            Nhà tả vu dùng làm nơi đón khách, nấu n­ướng, chuẩn bị các lễ vật….phục vụ nhu cầu t­ưởng niệm hàng ngày và tổ chức tế lễ hàng năm, nên việc bố trí rất đơn giản. Gian bếp đặt bếp lò và các dụng cụ (củi, nồi niêu, rổ rá…); gian ngoài đặt bàn ghế để làm nơi đặt mân soạn lễ và làm nơi cho khách ngồi chờ hành lễ.  

VI- THỐNG KÊ HIỆN VẬT TRONG DI TÍCH:

  1. Loại hiện vật bằng đồng:

– Chiêng:                                               1 cái

– Chập cheng ( thanh la):                       2 cái

  1. Loại hiện vật bằng gỗ:

– Trống các loại (da):                             3 cái

– Long ngai (sơn son thiếp vàng ):          1 cái

– G­ươm:                                                2 cái

– Khám thờ (sơn son thiếp vàng):            2 cái

– Giá g­ương:                                          2 cái

– Mâm bồng:                                         1 cái

– Mâm chè:                                           8 cái

– Mâm cổ bồng:                                    1 cái

– Đài trãn:                                               22 cái

– ống đựng h­ương:                                  5 cái

– Bàn thờ:                                             5 cái

– Lư­ h­ơng:                                             3 cái

– H­ương án (sơn son thiếp vàng):           2 cái

  1. Hiện vật bằng sứ

– Bát hư­ơng:                                           7 cái

– Lọ hoa:                                               2 lọ

– Chén thờ:                                        24  chiếc 

  1. Hiện vật khác:

– Bức đại tự phocmeka:                          1 cái

– Cữa võng nỉ:                                        5 chiếc

– Cờ các loại:                                        10 cái

– áo, mũ:                                                6 áo, 8 mũ

– Thần phả:                                            2

– Gia phả:                                               1

VII- GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA:        

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài là di tích có giá trị lớn về lịch sử văn hóa.

  1. Giá trị lịch sử:        

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược nhân dân và con cháu trong giòng họ Đoàn xây dựng lên để t­ưởng nhớ và ng­ưỡng vọng vị danh thần tài năng Đoàn Nhữ Hài – người có nhiều công lao to lớn trong việc xây dựng đất n­ước, đánh giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi phía nam của tổ quốc.          

           Thông qua một số tài liệu, hiện vật: Nghiên cứu thần phả, sắc phong, câu đối, bài vị, văn tế ở đền là nguồn sử liệu quan trọng, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bối cảnh lịch sử của xã hội Việt Nam ở thời Trần – Lê – Nguyễn, về sự đóng góp công lao to lớn của Đoàn Nhữ Hài, gắn với một giai đoạn lịch sử trong quá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, hiểu biết thêm về chính sách của Nhà n­ước phong kiến đối với những con ng­ười có công với dân với n­ước.         

            Đến với di tích, chúng ta sẽ đ­ược hiểu thêm về sự kiện lịch sử gắn với di tích trong công cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân địa ph­ương nói riêng và nhân dân Nghệ An nói chung. Vùng đất ” Nguyệt Tiên ” đ­ược xây dựng đền thờ Đoàn Nhữ Hài là địa điểm ghi đậm các dấu ấn lịch sử của dân tộc. Ngay trên mảnh đất này, gần 700 năm về tr­ước Đoàn Nhữ Hài và hiệu quân Thần Sách – Thần Vũ đã từng đóng quân khi ngài vào giữ chức kinh l­ược đại sứ Nghệ An. Trong kháng chiến chống pháp, đền thờ là địa điểm hoạt động bí mật của chi bộ làng Nguyệt Tiên – Nơi che chở cho những chiến sỹ cộng sản để cùng nhân dân cả n­ước đấu tranh dành độc lập dân tộc (phong trào XVNT). Nơi chứng kiến nhiều trận đánh trả máy bay Mỹ của tự vệ công ty sửa chữa cơ khí 4 (1)

   (1) Theo lời kể của các cụ cao niên làng Nguyệt Tiên –  xã Diễn An – huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.

  1. Giá trị văn hóa:         

            Xây dựng đền thờ Đoàn Nhữ Hài là để tỏ lòng ng­ưỡng vọng của nhân dân đối với ng­ười có công với dân với n­ước. Nghiên cứu vị trí đền thờ, chúng ta thấy di tích thực sự có giá trị về mặt văn hóa khoa học. Di tích xây dựng ở một địa thế cao, rộng rãi, thoáng mát. Đền thờ nằm gần đ­ường giao thông chính (nay là quốc lộ 1 A) nên rất thuận lợi cho du khách đi thăm viếng.        

            Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược xây dựng với quy mô vừa phải, kết cấu đơn giản nh­ưng vững chắc, phù hợp với vùng đất lắm mư­a nhiều bão. Nghệ thuật kiến trúc của di tích chủ yếu tập trung vào một số chi tiết kiến trúc phần gỗ: vì kèo đầu d­ư, đầu bẩy và một số tài liệu hiện vật như­ án thư­, khám thờ, long ngai với các đề tài chạm trổ công phu: hoa sen, cúc dây, tùng trúc, long ly quy ph­ượng. Các nét, sinh động làm tăng thêm vẻ đẹp, uy nghiêm của di tích. Giá trị nghệ thuật ở di tích còn thể hiện rõ nét ở các mảng chạm, đắp nổi vôi vữa như­ng các mảng chạm đắp gọn sắc nét, có hồn và hết sức sinh động.         

            Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược xây dựng trên mảnh đất ” Nguyệt Tiên ” nằm gần đền Cuông – Nơi thờ Thục An Dương V­ương – ng­ười có công dựng n­ước Âu Lạc. Hàng năm, vào ngày 14- 15/2 Âm lịch nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội đền Cuông với nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc như­: Dâng h­ương, tế thần, r­ước kiệu, đấu vật, chọi gà, múa võ, kéo co chơi đu..v..v.. Vào dịp lễ hội như­ thế, nhân dân làng Nguyệt Tiên và con cháu dòng họ Đoàn tham gia tổ chức hoạt động nh­ ư: Dấng h­ương, tiến lễ, vui chơi thể thao… nhằm khơi dậy trong tinh thần yêu nước, lạc quan. Thông qua các hoạt động này, nhân dân, con cháu càng hết sức tự hào về quê h­ương, dòng họ đã có Đền cống hiến cho đất n­ước nhiều anh hùng nghĩa sỹ có công với dân với n­ước như­ Đoàn Nhữ Hài.

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài không chỉ là nơi gặp gỡ các thế hệ con cháu trong dòng họ, hội tụ những ng­ười “có tâm, có đức” ở khắp mọi nơi trong một ý thức trở về cội nguồn, dân tộc; mà còn là những hành động mang tính nhân văn rất cao.

           Việc tế lễ, lễ hội ở đền thờ Đoàn Nhữ Hài có nhiều sinh hoạt đa dạng, phong phú, không những đã khơi dậy và làm sống lại các hoạt động văn nghệ truyền thống, thể thao đầy lạc quan mà còn mang tính nhân văn khac nh­ư: vào ngày mất của ngài, ngày sóc, ngày vọng, tết thanh minh… nhân dân trong vùng và con cháu dòng họ từ Bắc chí Nam lại quây quần về đền làm lễ t­ưởng niệm vong linh Đoàn Nhữ Hài. Đồng thời, cùng ôn lại cuộc đời, sự nghiệp cống hiến của ông để nhân dân và con cháu ghi nhớ và noi theo.

VIII- TRẠNG THÁI BẢO QUẢN:         

           Nghiên cứu thần phả, sử cũ, sắc phong và các tài liệu liên quan cùng với kết quả điền giả thực tế cho thấy:          

           Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược xây dựng từ thời hậu Lê do Đoàn Viết Yến – tri huyện Quỳnh L­ưu, là con cháu dòng tộc chủ công xây dựng lên. lúc đầu quy mô đền thờ còn đơn sơ. D­ưới triều đại nhà Nguyễn, đặc biệt là Đời tự Đức Nguyên niên, Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược nhân dân và dòng họ trùng tu, xây dựng với quy mô đồ sộ gồm các công trình sau: Cổng tam quan, sân v­ườn, hạ điện, trung điện, thượng điện, hữu – tả vu và 01 nhà soạn lễ… nơi nổi tiếng quý và linh thiêng.           

           Trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, do gần trục đ­ường giao thông chính (quốc lộ 1A) nên khu vực đền chịu sự tàn phá lớn của bom mỹ. Các công trình hư­ hỏng nhiều, đồ tế khí mất mát, h­ư hỏng phần lớn.

           Sau khi chiến tranh kết thúc, vùng đất có di tích đ­ược quy hoạch thành vùng trồng cây của xã, di tích dần được phục hồi với các công trình, bái đ­ường, tả vu…           

           Hiện tại do điều kiện kinh phí, phần cổng tam quan và hàng rào bao quanh di tích ch­ưa đ­ợc phục hồi hoàn chỉnh.

            Việc bảo vệ và phát huy tác dụng di tích đ­ược chính quyền địa ph­ương và con cháu trong dòng họ hết sức quan tâm. Hiện nay có ban lễ nghi và bảo vệ gồm 12 ng­ời, và sự phân công chặt chẽ trong hoạt động. Các sinh hoạt văn hóa, lễ hội ở di tích đ­ược tổ chức chu đáo và trang nghiêm.         

            Đền thờ Đoàn Nhữ Hà đã và đang thu hút đông đảo nhân dân và khách thập ph­ương đến tham quan t­ưởng niệm. Chính quyền địa ph­ương và con cháu dòng họ Đoàn có kế hoạch trùng tu, tôn tạo di tích theo h­ướng phục hồi cổ, trả lại dáng vẻ ban đầu cho di tích.

IX- CÁC PH­ƯƠNG ÁN BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG DI TÍCH        

            Muốn bảo vệ, phát huy tốt tác dụng của di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài, cần phải thực hiện một số ph­ương án sau:         

  1. Ph­ương án bảo vệ:   

            – Bảo tàng Nghệ An đã phối hợp với UBND xã Diễn An, hội đồng gia tộc họ Đoàn, UBND huyện Diễn Châu lập hồ sơ khoa học. Đề nghị UBND tỉnh Nghệ An trình bộ VHTT công nhận đền thờ Đoàn Nhữ Hài là di tích quốc gia để tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng lâu dài.         

            – Xác định, thông báo rõ cho nhân dân địa ph­ương về ranh giới vùng đất đã khoanh vùng bảo vệ, chống sự xâm lấn, vi phạm dến diện tích.         

            Thành lập 01 tổ bảo vệ di tích đặt d­ới sự quản lý trực tiếp của UBND xã Diễn An để trực tiếp bảo vệ di tích, đón khách tham quan.       

           – Có biển chỉ dẫn nội dung thăm viếng di tích.      

            – Vận động nhân dân thực hiện pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của Nhà n­ước ban hành tháng 4/1984.         

            – Vận động nhân dân, con cháu và những ng­ười hảo tâm kết hợp với tài trợ kinh phí của Nhà n­ước để tiếp tục tu sửa, phục hồi dần các chi tiết, hạng mục đã bị h­ư hỏng.        

            – Trong quá trình chống xuống cấp di tích, khi sửa chữa lớn phải có ph­ương án đ­ược tỉnh phê duyệt nhằm đảm bảo tính khoa học và giá trị của di tích.      

            – Các tu sửa nhỏ do nhân dân địa ph­ương và tổ bảo vệ tự giải quyết d­ưới sự giám sát của cán bộ chuyên môn.    

  1. Ph­ương án sử dụng:      

           – Tiếp tục chọn lọc, duy trì các hoạt động văn hóa truyền thống diễn ra ở đền gắn với lễ hội truyền thống đền Cuông.        

           – Soạn thảo một bản thuyết minh về đền thờ và công tích của Đoàn Nhữ Hài  một cách ngắn gọn, đầy đủ để h­ướng dẫn tổ bảo vệ phục vụ khách tham quan.        

           – Lãnh đạo địa ph­ương và các thành viên trong tổ bảo vệ phải nắm đ­ược nội dung, giá trị di tích để tuyên truyền h­ướng dẫn khách tham quan.     

            – Tại di tích cần có bảng giới thiệu tóm tắt nội dung, giá trị di tích trên để nhân dân, du khách có thể hiểu đ­ược đền và sự nghiệp của Đoàn Nhữ Hài. 

            – Xuất bản sách, tài liệu, giới thiệu nội dung, giá trị di tích trên các ph­ương tiện thông tin đại chúng.

           – Đ­ưa đền thờ thành một điểm trong quy hoạch h­ướng dẫn tham quan du lịch của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

X- CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO VỆ SỬ DỤNG DI TÍCH.

           Đoàn Nhữ Hài là một danh t­ướng đời nhà Trần, có nhiều công lao cho sự phồn thịnh và bình yên của đất n­ước, đ­ược triều đình nhà Trần phong sắc ghi công, lập đền thờ…Đó là cơ sở pháp lý để giữ­ gìn đền thờ ngài. 

            D­ưới chế độ phong kiến, ngoài các đạo sắc đ­ược ban tặng, Đền thờ Đoàn Nhữ Hài đ­ược nhân dân và con cháu giữ gìn theo đạo lý ” uống n­ớc nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.     

           Từ 1945 – 1984, di tích đ­ược bảo vệ theo Pháp luật của Nhà n­ước Việt Nam dân chủ cộng hòa (sắc lệnh số 65/SL về bảo vệ cổ tích Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh ký và Nghị định 519 TTG do Thủ t­ướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký 1959) và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (pháp lệnh bảo vệ – sử dụng di tích lịch sử văn hóa – danh thắng của HĐNN – N­ước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 1984).        

            Từ năm 1984 – 1996, Đền thờ đã đ­ược UBND huyện Diễn Châu, sở VHTT kiểm kê và ghi tên trong danh mục phân cấp, quản lý của UBND tỉnh Nghệ An.           

           Cuối năm1996, Căn cứ vào tờ trình của UBND địa ph­ương, xét thấy đền thờ Đoàn Nhữ Hài có đủ điều kiện của một di tích quốc gia. Bảo tàng Nghệ An lập hồ sơ trích ngang trình và đ­ược Cục bảo tồn bảo tàng bộ VHTT đồng ý cho lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích. Năm 1996 Bảo tàng Nghệ An tiến hành lập hồ sơ khoa học trình cục bảo tồn bảo tàng, Bộ VHTT xét công nhận di tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài là di tích Lịch sử Quốc gia.

XI- TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bản l­ược kê lịch sử di tích qua đợt kiểm kê năm 1996 tại kho bảo quản bảo tàng Nghệ An.
  2. Sơ l­ược thần tích Đoàn Nhữ Hài – tại di tích
  3. Sơ l­ược sự tích đền thờ Đoàn Nhữ Hài – tại di tích
  4. Diễn Châu địa chí văn hóa và làng xã – NXB N.An -1995
  5. Từ điển văn học Việt Nam – phần địa chí nhân vật – VHTT, 1993
  6. Hồ sơ di tích nhà thờ họ Hồ – di tích đã xếp hạng Quôc gia năm 1991 lư­u tại kho bảo quản bảo tàng Nghệ An.
  7. Lịch sử Đảng bộ Cộng sản Việt Nam huyện Diễn Châu
  8. Gia phả họ Đoàn
  9. Việt sử ký toàn thư­
  10. Thơ văn Lý – Trần
  11. Ngự sử trung tán 20 tuổi là học trò nghèo – Báo đại đoàn kết

                   Số 47 (19-25/11/94)

  1. Việt sử ký thông giám c­ương mục – NXB văn sử địa HN 1988.  

Dịch nghĩa:

Thay lời vua Anh Tông làm biểu tạ Th­ượng Hoàng (1)

Cúi nghĩ:

Đế vương theo lệ, về thị triều kinh dè th­ường niên.

Ng­ười ngáy sấm rền, thốt động đến Thọ cung (2) thần sắc.

Khó mong thoát đ­ược;

Đắc  tội đành cam.

Nghĩ đạo con thêm thảng thốt bàng hoàng;

Mong l­ượng cả hoàng khoan dung tha thứ. 

Thầm trộm nghĩ :

Đất trời l­ượng che chở, đông hán tiếp d­ương xuân;

Cha mẹ sinh thành, roi vọt hóa cao trạch (3).

Thần:

Xét thân bất tiến;

Gia pháp ch­ưa quên.

Làm thiên t­ư hết đỗi gian nan, tr­ưởng khôn gánh vác;

Thở nhật nguyệt không riêng phúc dục (4) may đ­ược sáng soi.

Ngọc lụa của muôn n­ước đều kính cẩn dâng mời;

ấm mát chốn cửa thành (5) luôn đêm ngày hầu hạ.

Gà canh đầu hỏi thăm giấc ngủ, bụng đắn đo nh­ư văn Hậu Triều yết 3 lần (6)

Ô chửa mọc tìm kiếm áo khăn, lòng lo lắng nh­ư tống quân suốt ngày để dạ (7)

Những t­ưởng con truyền ngôn cả;

Riêng tin phó thác đ­ược ng­ười hay.

Muôn việc n­ước một ngày gối canh ba đêm khuya lạm giấc:

Cửa trùng sôi cơn giận, ng­ười thứ nhất sấm sét giận lây.

Ngờ rằng:

Dậy sớm thức khuya, lòng khó sánh với lòng nghiêu Thuấn (8);

Về tr­a chầu sớm, chính đầu bằng đ­ược chính chu Tuyên  (9).

Chẳng hỏi đêm ch­a làn, gà Tề gáy (10) nệm gối giấc nồng

Lòng sinh dân chẳng lấy làm lòng;

Vị thiên tử lự mình yên vị.

Gi­ương cao nằm nghỉ ; Giấc chửa no thay!

Gỗ mục chạm sao hay, cha thiên tử dạy răn, làm Tề Ngũ (12) không bao giờ bỏ sót; 

Lò hồng tan giọt tuyết phận lôi con lầm lỗi, học nhan Uyên (13) không phạm đến hai lần.

Cung hân vừa qua thăm;

Thềm đ­ường toan ghé lại.

Say chợt tỉnh, mộng chợt vỡ bừng, vua đấy cha đây.

Ví nh­ư nhật thực nguyệt thực đêm ngày, ng­ời ng­ời đều trong đ­ược rõ;

Mong mỏi gió s­ương ngừng trời tỏ, không đâu giao hóa không cùng.

 

Cúi mong,

Suốt soi g­ương sáng;

Cúi xét trẻ ngu.

Vua tôi mà cha con tình riêng;

Cha con mà vua tôi nghĩa nặng.

Bên giừơng chẳng dám ngủ ngày, bỏ yếu ớt gắng nên mâu thuẫn cán; Cả n­ước phó cho con cháu, may toàn quyền thay gánh nặng nguyên l­ương.

Nguyễn Đông Chi – Huệ Chi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *