ĐOÀN NHỮ HÀI

ĐOÀN NHỮ HÀI

(1280-1335)

Đoàn Nhữ Hài (1)

Đoàn Nhữ Hài (chữ Hán: 段汝諧, 1280-1335), người làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương), là một danh thần đời nhà Trần. Ông làm quan trải ba đời vua Trần Nhân Tông (1279-1293), Trần Anh Tông (1293-1314) và Trần Minh Tông (1314-1329), là người có năng lực hoạt động về ngoại giao và nội trị, lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Hành khiển, Thiên tử chiêu dụ sứ, Kinh lược Nghệ An. Ông hy sinh trong cuộc chinh phạt Ai Lao năm 1335.

Tuổi trẻ nắm trọng quyền

Khi còn trẻ, Đoàn Nhữ Hài lên kinh thành Thăng Long du học, ở trọ tại chùa Tư Phúc. Trong một dịp tình cờ, ông được gặp gỡ vua Trần Anh Tông và giúp nhà vua thoát khỏi một cơn giận của Thượng hoàng Trần Nhân Tông nên bắt đầu được vua tin dùng.

Chuyện xảy ra vào tháng 5 năm Kỷ Hợi (1299), sau khi vua Trần Anh Tông lên ngôi được khoảng sáu năm. Một hôm, Thượng hoàng Trần Nhân Tông, lúc này đã dời tới sống ở phủ Thiên Trường, đột xuất về Thăng Long để kiểm tra công việc của vua Anh Tông. Còn nhà vua thì đang cùng bề tôi uống rượu xương bồ tới say khướt.

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, Thượng hoàng đi khắp các cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (khoảng từ bảy giờ đến 11 giờ sáng) mà vẫn không thấy vua Trần Anh Tông. Khi được biết vì uống rượu đêm qua quá say mà đến giờ đó vua vẫn chưa dậy đượng, Thượng hoàng nổi trận lôi đình, “lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội”.

Đến giờ Mùi (từ một đến ba giờ chiều), Anh Tông mới tỉnh dậy. Vua hay chuyện rất hoảng hốt. Nhìn quẩn nhìn quanh không thấy những bề tôi thân tín đâu cả, vua bèn ra khỏi cung, nhằm hướng sông Nhị cho đỡ bức bối, tới cửa chùa Tư Phúc, vua gặp Đoàn Nhữ Hài ngồi đọc sách và nhờ ông soạn bài biểu tạ tội với Thượng hoàng.

Đoàn Nhữ Hài đứng trước mặt vua, trong chốc lát đã soạn xong tờ biểu, lời lẽ đầy ân hận và cảm động. Vua bèn lấy thuyền nhẹ nhằm hướng Thiên Trường đi ngay, cho Đoàn Nhữ Hài theo. Tới rạng sáng hôm sau thì tới. Vua sai Đoàn Nhữ Hài vào phủ dâng biểu cho Thượng hoàng. Thượng hoàng giận, giả bộ không thèm để ý đến, mặc Đoàn Nhữ Hài cứ quỳ trước cửa điện. Chiều hôm ấy thời tiết xấu, trời bỗng nhiên nổi mưa to gió lớn. Đoàn Nhữ Hài vẫn quỳ nguyên tại chỗ không nhúc nhích. Động lòng, Thượng hoàng sai nội nhân ra cầm tờ biểu tạ tội vào. Đọc xong, Thượng hoàng khen tờ biểu viết khéo, quở trách Anh Tông nghiêm khắc rồi tha cho về.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Sáng sớm hôm sau, vua tới phủ Thiên Trường, dâng biểu tạ tội. Thượng hoàng thấy Nhữ Hài, liền hỏi là người nào. Nội nhân trả lời là người dâng biểu của Quan gia. Thượng hoàng không nói gì.

Buổi chiều, mưa gió ập đến. Nhữ Hài vẫn cứ quỳ không nhúc nhích. Thượng hoàng hỏi: “Người ở trong sân có còn đấy không?”. Nội nhân đáp rằng còn. Thượng hoàng bèn sai nhận biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết cho gọi vua vào bảo:

“Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này?”.

Vua rập đầu tạ tội. Thượng hoàng hỏi: “Ai soạn biểu cho ngươi”.

Vua thưa: “Đó là thư sinh Đoàn Nhữ Hài”.

Thượng hoàng bèn gọi Nhữ Hài vào và bảo: “Bài biểu ngươi soạn, rất hợp lòng trẫm”.

Rồi xuống chiếu cho Quan gia lại vẫn làm vua; các quan về triều như cũ.[1]

Trở về kinh sư, vua Trần Anh Tông ngay lập tức phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán, chức quan đứng hàng thứ hai ở Ngự sử Đài, có nhiệm vụ can gián, đàn hặc nhà vua. Khi ấy ông chưa tới 20 tuổi. Việc một thư sinh trẻ tuổi chưa hề đỗ đạt gì, lại không phải hoàng thân quốc thích, mà được đưa lên một cương vị trọng yếu như vậy đã không khỏi khiến thiên hạ đàm tiếu, nhưng Đoàn Nhữ Hài đã cố gắng hoàn thành trọng trách của mình.

Đối phó với Chiêm Thành

Đi sứ

Đoàn Nhữ Hài làm quan được lòng cả vua Anh Tông và Thượng hoàng Nhân Tông. Tháng 10 năm Quý Mão (1303), ông được thăng chức Tham tri chính sự nhờ có công trong một chuyến đi sứ Chiêm Thành trước đó.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Trước đây, sứ nước ta tới Chiêm Thành, đều lạy chúa Chiêm trước, rồi sau mới mở chiếu thư. Đến khi Nhữ Hài tới, liền bưng ngay chiếu thư để lên trên án và nói với chúa Chiêm:

“Từ khi sứ thiên triều mang chiếu thư của thiên tử sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu thư đã, rồi mới tuyên đọc sau”. Rồi lập tức hướng vào tờ chiếu mà lạy. Lúc ấy, chúa Chiêm đứng bên cạnh, lạy thế không khỏi có chút chưa ổn, nhưng lấy cớ mà lạy chiếu thư thì về lý là thuận, mà sứ tiết cũng không phải khuất.

Hôm sau, Nhữ Hài treo bảng cấm buôn bán ở Tỳ Ni (bến cảng của Chiêm Thành, nơi tụ tập các thuyền buôn, nay ở vào khoảng thành phố Quy Nhơn), tuyên đọc xong, treo bảng lên, lại gọi viên coi cảng đến bảo:”Chỗ này người buôn bán tụ họp phức tạp, lại là bến tàu xung yếu, khó giữ gìn, sứ thần về rồi, cất ngay bảng đi, đừng để mất”.

Ý ông cho rằng Chiêm Thành tuy đã thần phục, nhưng thực ra chưa chịu nội phụ, bảng cấm rốt cục cũng bị bỏ đi, cho nên nói trước như vậy, không để tự họ làm như thế. Sau này, đi sứ Chiêm Thành, không lạy chúa Chiêm là bắt đầu từ Nhữ Hài. Khi về nước, vua rất khen ngợi ông và quyết ý dùng vào chức to, cho nên có lệnh này.[2]

Sau sự kiện đó, Đoàn Nhữ Hài càng được vua Anh Tông sủng ái. Tháng 12 năm Giáp Thìn (1304), ông lại được thăng chức một lần nữa, bổ chức Tri khu mật viện sự. Triều nhà Trần, chức vụ đó rất quan trọng, thường chỉ giao cho những người tôn thất. Đặc ân này khẳng định sự đánh giá cao đặc biệt của vua Anh Tông giành cho Đoàn Nhữ Hài. Sau đó, ông còn được giao những nhiệm vụ quan trọng như việc đi phủ dụ hai châu Ô, Lý mới được nhập vào Đại Việt và đổi tên thành châu Thuận, châu Hóa. Việc này diễn ra năm 1307.

Chinh phạt

Trong cuộc dấy binh chinh phạt Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311) của vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài góp phần quan trọng để giành lấy thắng lợi mà không hề tốn xương máu.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Trước đó, Chế Chí sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài bí mật ước hẹn với hắn. Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình chia quân làm ba đường: Huệ Vũ Vương Quốc Chuẩn theo đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ cùng tiến. Lấy Đoàn Nhữ Hài làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước.

Vua đến Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng. Nhân Huệ Vương đem quân đuổi theo. Nhữ Hài lập tức chạy thư tâu rằng: “Khánh Dư muốn cướp công vua”.

Vua giận lắm, sai bắt giám quân của Khánh Dư là Nguyễn Ngỗi đem chặt chân. Nhân Huệ sợ, sai ngự doanh tạ tội nói rằng: “Thần sợ nó đến giữa biển lại đổi bụng khác, nên mới chặn đằng sau thôi”.

Vua nguôi giận, sai chia quân đi tuần các bộ lạc. Người Chiêm tụ tập định đánh vào ngự doanh. Tiếng voi đã gần, quân sĩ có vẻ lo sợ. Được vài hôm, quân của Huệ Vũ Vương tự tìm đường mà tới, người Chiêm chạy tan. Trận đánh không mất một mũi tên mà Chiêm Thành bị dẹp, đó là công sức của Nhữ Hài.[3]

Tuẫn tiết

Bàn thờ Đoàn Nhữ Hài tại Huyền Trân Công Chúa điện, Huế

Năm Ất Hợi (1335), dưới triều vua Trần Hiến Tông, biên giới phía Tây Đại Việt bị Ai Lao quấy nhiễu. Quân Ai Lao xâm phạm cả ấp Nam Nhung thuộc đất Nghệ An. Lúc này, Đoàn Nhữ Hài đang chỉ huy quân Thần Vũ và Thần Sách, kiêm chức Kinh lược Địa sứ Nghệ An nên được trao chức đốc tướng khi Thượng hoàng Anh Tông thân chinh đi đánh Ai Lao.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Trước đó, Thượng hoàng đã bàn việc đánh Ai Lao mà không đi được. Đến đây lại bàn việc thân chinh, nhưng bị đau mắt. Có người xin hoãn việc xuất quân. Thượng hoàng nói: “Năm ngoái định thân chinh rồi không được, năm nay lại vì đau mắt mà hoãn xuất quân, thiên hạ sẽ bảo ta là nhát, nếu giặc phương Bắc xâm lấn thì ta còn nhờ cậy vào đâu?”[4]

Đoàn Nhữ Hài, vốn xuất thân là một văn quan, không có tầm nhìn chiến lược và kinh nghiệm trận mạc của võ tướng đích thực, đã nhận định sai lầm về tình hình quân đội hai bên. Ông đoán định quân Ai Lao giữ đất Nam Nhung “ít và yếu, đánh nhất định thắng”. Không chỉ tham vọng tiêu diệt lực lượng quân địch ở đây, Đoàn Nhữ Hài còn định sau khi thắng trận, sẽ bắt được tù binh theo dòng sông La xuôi xuống, để phô trương sức mạnh Đại Việt với thiên hạ.

Nhưng trận đánh trên thực tế đã diễn ra hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của Đoàn Nhữ Hài. Ngày giao chiến, mây mù che tối, quân Ai Lao phục sẵn voi ngựa, hai mặt giáp công. Quân của Đoàn Nhữ Hài bị đánh thua tan tác, bản thân ông sa xuống nước chết đuối. Sau thất bại đó của Đoàn Nhữ Hài, Thượng hoàng Anh Tông cho rằng ông đã thất trận chỉ vì muốn lập kỳ công, có nói: “Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!”[5]

Tên đường

Quận 4, Tp HCM có 1 con đường mang tên ông nhưng lại viết là Đoàn Như Hài, có ý kiến cho rằng tên đặt như vậy là sai [6]

Đoàn Nhữ Hài (2)

Công thần nhà Trần Đoàn Nhữ Hài: Danh vọng và nỗi hàm oan

Muốn đánh giá đúng một con người thì thực sự phải dựa vào việc làm của họ. Nhưng để chọn được người có thể đảm đương được những công to việc lớn trong tương lai, một thủ lĩnh cần phải có con mắt xanh “anh hùng đoán giữa trần ai”, không phải một cách vu vơ, vô cớ mà trên cơ sở những cảm nhận ban đầu qua những câu nói, qua cách ứng xử đời thường.

Những vị minh quân thời Trần như vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông… đã có được “con mắt xanh” ấy và vì thế, dưới thời họ trị vì, nhiều anh hùng và nhân sĩ đã quy tụ về triều đình, góp phần làm nên những sự nghiệp hiển hách. Câu chuyện về danh thần Đoàn Nhữ Hài sau đây là một minh chứng về linh cảm xuất sắc của những vị vua hiền về người tài trong thiên hạ.

Đoàn Nhữ Hài quê ở Gia Lộc, Hải Dương. Ông sinh năm Canh Thìn 1280. Tương truyền, ngay từ nhỏ ông là một người cực kỳ hiếu học, tay không lúc nào rời khỏi sách. Đến tuổi thiếu niên, lên kinh đô, Đoàn Nhữ Hài càng miệt mài sôi kinh nấu sử, lắm lúc đọc sách mải mê đến quên cả giời đất xung quanh.

Và chính trong một lần mê mải đọc sách như thế, ông tình cờ được gặp vua Trần Anh Tông và chính cuộc gặp gỡ ấy đã làm thay đổi đời ông một cách căn bản.

Chuyện xảy ra vào tháng 5 năm Kỷ Hợi 1299. Đó là khi vua Trần Anh Tông lên ngôi được khoảng 6 năm (từ 1293). Một hôm, Thượng hoàng (vua Trần Nhân Tông) từ phủ Thiên Trường về Thăng Long, lại đúng lúc nhân hôm rỗi việc, vua Trần Anh Tông cùng bề tôi uống rượu xương bồ tới say khướt.

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), về tới kinh sư, Thượng hoàng thả bước đi dạo khắp các cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Khi cung nhân dâng bữa, không thấy vua Trần Anh Tông đâu, Thượng hoàng rất lấy làm lạ.

Tuy nhiên, lần này vì say quá nên khi cung nhân vào trong nội đánh thức, nhà vua vẫn không sao mở mắt ra được. Thế là Thượng hoàng nổi trận lôi đình, “lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội” (ĐVSKTT).

Đến giờ Mùi, vua Trần Anh Tông mới dứt cơn say, tỉnh dậy, hay chuyện mới lấy làm hoảng hốt. Nhìn quẩn nhìn quanh không thấy những bề tôi thân tín đâu cả. Vua lật đật ra khỏi cửa cung (lúc này cũng không có ai coi giữ), nhằm hướng sông Nhị cho đỡ bức bối, tới cửa chùa Tư Phúc, thấy một thư sinh mặt trẻ măng đang ngồi cắm cúi đọc sách. Thấy lạ, vua nói:

– Vừa rồi trẫm vì say rượu, có tội với Thượng hoàng, giờ trẫm định đến trước mặt ngài tạ tội, ngươi hãy thảo cho trẫm bài biểu.

Đoàn Nhữ Hài đứng trước mặt vua, trong chốc lát đã soạn xong tờ biểu, lời lẽ đầy ân hận và cảm động. Vua bèn lấy thuyền nhẹ nhằm hướng Thiên Trường đi ngay, cho Đoàn Nhữ Hài theo mình. Tới rạng sáng hôm sau thì tới. Vua sai Đoàn Nhữ Hài vào phủ dâng biểu cho Thượng hoàng. Thượng hoàng giận, giả bộ không thèm để ý đến, mặc Đoàn Nhữ Hài cứ quỳ trước cửa điện.

Chiều hôm ấy thời tiết xấu, trời bỗng nhiên nổi mưa to gió lớn. Đoàn Nhữ Hài vẫn quỳ nguyên tại chỗ không nhúc nhích. Động lòng, Thượng hoàng sai nội nhân ra cầm tờ biểu tạ tội vào. Đọc xong, Thượng hoàng cho gọi vua Trần Anh Tông tới và nói:

– Trẫm xem lời lẽ trong tờ biểu rất hay, rất khéo, rất hợp lòng trẫm. Chắc không phải lời lẽ của con, vậy ai đã viết cho con vậy?

Vua Trần Anh Tông tâu, đó là Đoàn Nhữ Hài. Thượng hoàng gật gù tỏ ra tâm đắc rồi lại nghiêm mặt nói:

– Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này?

Vua rập đầu tạ tội. Thượng hoàng cho gọi Đoàn Nhữ Hài vào, nhìn thấy gương mặt còn búng ra sữa của kẻ học trò lạ, tấm tắc khen. Rồi Thượng hoàng xuống chiếu cho Trần Anh Tông lại vẫn làm vua. Các quan cũng được về triều như cũ.

Trở về kinh sư, vua Trần Anh Tông ngay lập tức phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử Trung tán (chức quan đứng hàng thứ hai ở Đài Ngự sử, có nhiệm vụ can gián, đàn hặc nhà vua). Khi ấy ông chưa tới 20 tuổi. Một thư sinh trẻ tuổi chưa hề đỗ đạt gì, lại không phải hoàng thân quốc thích, mà lại được đưa lên một cương vị trọng yếu như vậy, bị thiên hạ ghen tị, đố kị thì cũng không có gì lạ.

Đoàn Nhữ Hài cũng hiểu điều này nên khi nghe có kẻ đàm tiếu, chế giễu ông, thì ông chỉ cười chứ không thèm nổi giận.

Là cận thần của vua, nhất cử nhất động gì trong hoàng cung đều biết rõ, Đoàn Nhữ Hài đã không lạm dụng chức vụ để lo tư lợi mà hết lòng phục vụ cho triều đình. Vì thế, vua Trần Anh Tông ngày càng tín nhiệm ông hơn. Tới năm Quý Mão 1303, Đoàn Nhữ Hài được phong làm Tham tri chính sự.

Cũng không phải tự nhiên ông được ngồi vào vị trí mới này mà trước đó ông đã lập được một công trạng quan trọng trong ngoại giao: chỉ dùng lý lẽ khôn ngoan mà tạo dựng được một bước tiến mới trong quan hệ với Chiêm Thành. Sách ĐVSKTT chép:

“Vua sai Nhữ Hài đi sứ Chiêm Thành. Nhữ Hài xin yết kiến Thượng hoàng ở chùa Sùng Nghiêm, núi Chí Linh, suốt ngày không được gặp. Một lát sau, pháp giá ra chơi. Nhữ Hài xin bái yết. Thượng hoàng nói chuyện với Nhữ Hài có đến một giờ. Khi trở về, Thượng hoàng bảo tả hữu:
– Nhữ Hài đúng là người giỏi, được Quan gia sai khiến là phải.

Trước đây, sứ nước ta tới Chiêm Thành, đều lạy chúa Chiêm trước, rồi sau mới mở chiếu thư. Đến khi Nhữ Hài tới, liền bưng ngay chiếu thư để lên trên án và nói với chúa Chiêm:

– Từ khi sứ thiên triều mang chiếu thư của thiên tử sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu thư đã, rồi mới tuyên đọc sau.

Rồi lập tức hướng vào tờ chiếu mà lạy. Lúc ấy, chúa Chiêm đứng bên cạnh, lạy thế không khỏi có chút chưa ổn, nhưng lấy cớ là lạy chiếu thư thì về lý là thuận, nhưng sứ tiết cũng không phải khuất”.

Cũng từ đấy, những sứ thần Đại Việt đi sang Chiêm Thành đều không phải lạy chúa Chiêm nữa. Vua Trần Anh Tông hay chuyện, rất khen ngợi Đoàn Nhữ Hài và thăng chức cho ông ngay.

Tới tháng 12 năm Giáp Thìn 1304, Đoàn Nhữ Hài lại được phong chức Khu mật viện sự. Trước đó, trong triều nhà Trần những cương vị như vậy thường chỉ giao cho người trong hoàng tộc. Sách ĐVSKTT bình về vụ thăng chức này:

“Vua đối với người tôn thất như Bảo Hưng (không nói rõ tên) thân yêu hết mực nhưng không trao cho việc chính sự, vì không có tài. Còn như Nhữ Hài chỉ là một nho sinh thôi, nhưng vì có tài nên không ngại trong việc ủy dụng nhanh vọt”.

Khả năng biện bác và lập luận đầy sức thuyết phục cùng sĩ khí không gì có thể khuất phục được của Đoàn Nhữ Hài đã giúp ông hoàn thành nhiều nhiệm vụ khó khăn khác mà vua Trần Anh Tông giao cho ông. Năm 1307, châu Ô và châu Lý được nhập vào nước ta thành châu Thuận, châu Hòa nhưng lòng dân bản địa vẫn có phần còn chưa thuận.

Đoàn Nhữ Hài đã được vua cử đi phủ dụ dân chúng. Và ông đã làm rất tốt việc này, bằng lời hay lẽ phải và cả bằng những việc làm nhân nghĩa.

Trong cuộc dấy binh chinh phạt Chiêm Thành năm Tân Hợi 1311 của vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài cũng đã góp phần quan trọng để giành lấy thắng lợi mà không hề tốn xương máu. Số là chúa Chiêm Thành khi ấy là Chế Chí hay có ý phản trắc nên Đại Việt không thể không có hành động răn đe để phòng hậu họa.

ĐVSKTT viết: “Trước đó, Chế Chí sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài bí mật ước hẹn với hắn. Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình chia quân làm ba đường: Huệ Vũ Vương Quốc Chuẩn theo đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ cùng tiến. Lấy Đoàn Nhữ Hài làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước.

Vua đến Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng. Nhân Huệ Vương đem quân đuổi theo. Nhữ Hài lập tức chạy thư tâu rằng: “Khánh Dư muốn cướp công vua”.

Vua giận lắm, sai bắt giám quân của Khánh Dư là Nguyễn Ngỗi đem chặt chân. Nhân Huệ sợ, sai ngự doanh tạ tội nói rằng:
– Thần sợ nó đến giữa biển lại đổi bụng khác, nên mới chặn đằng sau thôi.

Vua nguôi giận, sai chia quân đi tuần các bộ lạc. Người Chiêm tụ tập định đánh vào ngự doanh. Tiếng voi đã gần, quân sĩ có vẻ lo sợ. Được vài hôm, quân của Huệ Vũ Vương tự tìm đường mà tới, người Chiêm chạy tan. Trận đánh không mất một mũi tên mà Chiêm Thành bị dẹp, đó là công sức của Nhữ Hài”.

Nhìn ở bất cứ góc độ nào, cũng phải thấy Đoàn Nhữ Hài là một danh thần tin cậy và nhiều công trạng đối với triều Trần. Tuy nhiên, ông đã kết thúc sự nghiệp của mình không phải với một chiến công xứng đáng. Năm Ất Hợi 1335, dưới triều vua Trần Hiến Tông, biên giới phía Tây bị Ai Lao quấy nhiễu.

Quân Ai Lao còn xâm phạm cả ấp Nam Nhung thuộc đất Nghệ An. Lúc này, Đoàn Nhữ Hài đang chỉ huy quân Thần Vũ và Thần Sách, kiêm chức Kinh lược Địa sứ Nghệ An nên đã làm đốc tướng khi Thượng hoàng (vua Trần Anh Tông) thân chinh đi đánh Ai Lao.  Sách ĐVSKTT viết:

“Trước đó, Thượng hoàng đã bàn việc đánh Ai Lao mà không đi được. Đến  đây lại bàn việc thân chinh, nhưng bị đau mắt. Có người xin hoãn việc xuất quân. Thượng hoàng nói:

– Năm ngoái định thân chinh rồi không được, năm nay lại vì đau mắt mà hoãn xuất quân, thiên hạ sẽ bảo ta là nhát, nếu giặc phương Bắc xâm lấn thì ta còn nhờ cậy vào đâu?

Bèn quyết ý thân chinh, ít lâu sau mắt cũng khỏi. Đến Nghệ An bệnh tái phát. Thượng hoàng ngồi thuyền cố gượng mà đi, khi lên bộ thì khỏi”.

Đoàn Nhữ Hài, cũng theo sách ĐVSKTT, “đoán chừng Ai Lao giữ đất Nam Nhung, quân ít và yếu, đánh nhất định thắng”. Và ông đã định sau khi thắng trận, sẽ bắt được tù binh theo dòng sông La xuôi xuống, để phô trương sức mạnh Đại Việt với thiên hạ.

Thế nhưng, người định, còn trời quyết. Không may đến  ngày giao chiến, mây mù che tối, quân Ai Lao đã phục sẵn voi ngựa, hai mặt giáp công nên quân của Đoàn Nhữ Hài cùng đốc tướng của mình đã sa xuống nước chết đuối tới quá nửa.

Thế nhưng, chết chưa phải là hết đau. Có lẽ Đoàn Nhữ Hài cũng khó ngậm cười nơi chín suối khi nghe được lời của Thượng hoàng nói vì tin vào những đồn đại cho rằng ông đã thất trận chỉ vì muốn lập kỳ công. Làm tôi trung đôi khi cũng dễ bị hàm oan nghìn thuở.

Thượng hoàng còn than: “Thế mới  biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!”

Võ Hoàng

Đoàn Nhữ Hài (3)

Giai Thoại Về Đoàn Nhữ Hài

Đoàn Nhữ Hài là danh nhân thời Trần. Ông người làng Trường Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ, ông ham học, thông minh, linh hoạt, có chí lớn. Đoàn Nhữ Hài là một nhà chính trị và ngoại giao có tài, ông là người bình dân đầu tiên được vua Trần trọng dụng không qua thi cử. Đoàn Nhữ Hài giữ chức Ngự sử, làm quan trải ba triều vua: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông. Tạp chí Quê hương xin giới thiệu một số giai thoại về Đoàn Nhữ Hài. 

Quan Ngự sử miệng còn hôi sữa
Vào thời Trần Anh Tông, cậu thiếu niên Đoàn Nhữ Hài lên Thăng Long học, nhưng chỉ học một mình, không chịu theo thầy nào cả.

Bấy giờ Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi phát tích của dòng họ Trần, trở về kinh sư. Các quan trong triều không ai biết cả, vua Trần Anh Tông thì uống rượu xương bồ say khướt. Thượng Hoàng thong thả đi thăm khắp các cung điện. Khi cung nhân dâng bữa, Thượng hoàng ngoảnh nhìn không thấy vua, lấy làm lạ, liền hỏi Quan gia ở đâu? Cung nhân vào trong nội đánh thức, nhưng vua không tỉnh. Thượng Hoàng giận lắm, lập tức trở về phủ Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội.

Khi vua tỉnh, cung nhân đem việc ấy tâu lên. Vua sợ quá, đi rảo ra khỏi cửa cung không thấy ai coi giữ, qua chùa Tư Phúc, thấy học sinh Đoàn Nhữ Hài ở cửa chùa. Vua hỏi:

– Sao ngươi lại ở đây?

Nhữ Hài vội vàng lạy rạp xuống đất tâu: “Thần vì mải học, đi lỡ ra đây”.

Anh Tông lại hỏi rằng: Sách vở đâu mà bảo rằng học?

Cậu thư sinh đáp: Cần gì phải có sách mới học được.

Anh Tông nghe thấy thế cũng phì cười, chẳng những không mắng mỏ, còn dịu dàng hỏi:

– Ngươi là học trò, vậy có thể làm cho ta việc này được không?

Vua kể lại chuyện rắc rối vừa xẩy ra rồi bảo Đoàn Nhữ Hài làm hộ một bài biểu. Nhữ Hài xin giấy bút thảo ngay tại chỗ một bài biểu dâng vua. Vua cùng quan quân và đem theo cả Nhữ Hài đến gặp Thái Thượng hoàng. Vua đứng ở ngoài, sai Nhữ Hài đội biểu vào chầu.

Được biết là biểu của Anh Tông, Thượng Hoàng không tiếp. Tới trưa, rồi quá chiều, chợt có một cơn mưa giông dữ dội, sấm vang sét nổ, mưa đổ như trút. Nhữ Hài vẫn quỳ không nhúc nhích như không hề xảy ra việc gì. Thượng Hoàng Trần Nhân Tông chợt sực nhớ người dâng biểu buổi sáng, hỏi:

Người ngoài sân còn đấy không?

Rồi ông sai lấy tờ biểu vào xem, thấy lời lẽ khẩn khoản thống thiết, chân thành, cho sai mời Anh Tông vào bảo:

– Kẻ làm vua không thể rượu chè bê tha như thế được. Trẫm đang sống mà còn thế, sau này trẫm mà nằm xuống thì thế nào?

Anh Tông cúi đầu khóc lóc và tạ tội. Thượng hoàng lại hỏi:

– Người soạn biểu là ai? Đỗ đạt gì chưa?

Vua thưa:

Đó là Đoàn Nhữ Hài. Anh ta chỉ là một thư sinh nghèo.

Thượng hoàng lấy làm lạ lắm cho mời Nhữ Hài vào bảo:

– Nhà ngươi soạn biểu rất hợp ý trẫm.

Thượng hoàng xuống chiếu cho vua và quan quân trở lại kinh sư và dặn vua cất nhắc Nhữ Hài.

Về đến kinh, vua liền cho Nhữ Hài làm Ngự sử Trung tán. Bấy giờ, Nhữ Hài mới tròn 20 tuổi.

Sự khôn khéo của Đoàn Nhữ Hài
Đoàn Nhữ Hài vâng thánh chỉ sang sứ Chiêm Thành.

Theo nghi lễ Chiêm quốc, sứ giả khi vào triều phải lạy chúa Chiêm trước, rồi mới được chiếu thư. Nhưng khi Nhữ Hài đến đó, vào triều kiến bưng chiếu thư trên án thư, nói với vua Chiêm:

– Từ khi sứ Thiên triều mang chiếu thư của Thiên tử sang, xa cách long nhan lâu ngày, nay mở chiếu thư thật như trông thấy mặt Thiên tử, nên tôi phải lạy chiếu thư đã rồi mới tuyên đọc.

Từ đó về sau, sứ thần ta sang Chiêm Thành không còn phải lạy vua Chiêm quốc nữa.

Thượng hoàng Trần Nhân Tông khen:

– Nhữ Hài đúng là người giỏi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *